Tuesday, November 2, 2010

Học gì từ Nguyễn Trường Tộ ?

image Bài học lớn nhất mà chúng ta học được từ Nguyễn Trường Tộ chính là sự thất bại của ông trong việc kiến nghị những giải pháp canh tân đất nước với tư cách một trí thức. Từ đó thấy rằng, chỉ khi nào người trí thức tự giác tránh con đường cụt mang tên “trí thức cận thần” để đi trên con đường mới – con đường trí thức độc lập, trí thức dấn thân – thì đất nước mới có thể tránh được nguy cơ trở thành “đất nước cận thần” và giữ được nền độc lập đúng nghĩa.
Mỗi khi nói về sự canh tân của nước Nhật, ta không khỏi nghĩ đến Fukuzawa Yukichi.
Mỗi khi nghĩ đến Fukuzawa Yukichi, ta không khỏi nghĩ đến Nguyễn Trường Tộ.
Cả Fukuzawa Yukichi và Nguyễn Trường Tộ đều là là những nhà tư tưởng về cải cách, sống cùng giai đoạn lịch sử. Nhưng một người thành công, một người thất bại.
Câu hỏi đặt ra là: Vì sao Fukuzawa Yukichi thành công, còn Nguyễn Trường Tộ thì thất bại?
Một phần của câu trả lời đến từ sự khác nhau trong cách tiếp cận của hai người.
Trí thức độc lập


Sau khi tiếp thu nền văn minh phương Tây, và nhận thấy cần phải tiến hành cải cách để canh tân đất nước nhằm giữ nền độc lập, vươn lên sánh vai cùng các cường quốc phương Tây, Fukuzawa Yukichi tiến hành chương trình hành động của mình.
Các việc làm của Fukuzawa Yukichi tương đối phong phú, nhưng có thể khái quát ngắn gọn như sau: mở trường dạy học, dịch sách, viết sách, làm báo để truyền bá văn minh phương Tây cho trí thức và dân chúng Nhật Bản.
Ông tìm cách khai sáng cho dân chúng và trí thức Nhật Bản, lúc đó còn chìm đắm trong lối học từ chương ảnh hưởng của Nho giáo Trung Hoa, thông qua việc cổ vũ lối thực học của phương Tây; xây dựng hình mẫu trí thức độc lập và chủ trương “độc lập quốc gia thông qua độc lập cá nhân”.
Bản thân ông cũng hành động như một hình mẫu của trí thức độc lập, không phụ thuộc vào giới cầm quyền.
Ông kêu gọi trí thức Nhật Bản lúc bấy giờ hãy "coi trọng quốc gia và coi nhẹ chính phủ", tự tin vào sức mạnh và vị thế độc lập của mình. Từ đó dẫn đến niềm tin tuyệt đối vào sức mạnh của tri thức và nền văn minh mới mẻ có tác dụng giải phóng tư duy và bồi đắp sự độc lập của cá nhân.
Khi trường Đại học Keio do ông sáng lập có nguy cơ phải đóng cửa vì nội chiến, chỉ còn 18 học sinh, ông vẫn tin tưởng: “Chừng nào ngôi trường này còn đứng vững, Nhật Bản vẫn sẽ là quốc gia văn minh trên thế giới”.
Fukuzawa Yukichi sống và làm việc như một trí thức độc lập điển hình.
“Trí thức cận thần”
Khác với Fukuzawa Yukichi, Nguyễn Trường Tộ, sau khi tiếp thu văn minh phương Tây, không truyền bá để khai sáng cho đại chúng mà dành phần lớn tâm sức cho việc viết tấu trình gửi nhà vua. Tất cả các bản tấu trình và điều trần của ông đều không được đưa ra sử dụng, dù hơn ai hết, ông biết được giá trị thật của chúng: "Tế cấp luận thâu tóm trí khôn của thiên hạ 500 năm nay… Bài Tế cấp luận của tôi nếu đem ra thực hành hàng trăm năm cũng chưa hết".
Bằng cách đó, ông đã phụ thuộc tuyệt đối vào nhà cầm quyền, đánh mất vị thế độc lập của người trí thức. Nói cách khác, ông hành xử như một “trí thức cận thần”: Viết tấu trình và chờ đợi sự sáng suốt của nhà vua.
Như thế, ông đã tự tước đi cơ hội của chính mình, và rộng ra là của cả dân tộc, vì trong suốt lịch sử, số lượng các minh quân vô cùng ít.
Những kiến nghị cải cách của ông, dù đúng đắn và có tầm vóc thời đại, nhưng rốt cuộc lại trở nên vô dụng.
Do hành xử như một “trí thức cận thần”, không có được sự độc lập cho bản thân mình, dẫn đến không có đóng góp gì đáng kể vào sự hình thành giới trí thức đúng nghĩa, nên sau khi ông mất đi, không có người tiếp nối. Tư tưởng canh tân đổi mới của ông vì thế bị chìm vào quên lãng.
Bài học cho hậu thế
Sự thất bại của Nguyễn Trường Tộ chính là bài học lớn nhất dành cho hậu thế. Tiếc rằng, bài học này, dù phải trả học phí rất đắt bởi không chỉ Nguyễn Trường Tộ mà còn cả dân tộc, không được sử dụng.
Những người có trách nhiệm thậm chí còn cỗ vũ và yêu cầu trí thức phải đi theo lối con đường “trí thức cận thần” của Nguyễn Trường Tộ khi cho rằng: Trí thức muốn kiến nghị hay phản biện xã hội, cần gửi cho các cơ quan hữu trách trước khi phổ biến ra ngoài xã hội.
Lịch sử đã chứng minh: Đi theo còn đường đó là đi vào ngõ cụt. Làm theo cách đó là kéo lùi bước đi của dân tộc.
Trước tình cảnh đó, không còn cách nào khác, người trí thức phải tự giác tránh con đường cụt đó, con đường “trí thức cận thần”, để đi con đường mới: con đường trí thức độc lập, trí thức dấn thân.
Chỉ khi đó, đất nước mới tránh được nguy cơ trở thành “đất nước cận thần”, và giữ được nền độc lập đúng nghĩa.
Việc Quốc hội lắng nghe tiếng nói của những trí thức độc lập trong thời gian gần đây cho thấy con đường trí thức độc lập đã được khai mở, chỉ chờ người dấn bước.
Ghi chú:
1. Trái với dự đoán, sau khi kiểm tra tôi thấy: cụm từ “trí thức cận thần” chưa phổ biến, và chưa thấy xuất hiện trên mạng internet.
2. Tôi được biết cụm từ này trong một thảo luận với một người bạn, TS. Nguyễn Đức Thành, vào khoảng đầu tháng 5/2010. Theo anh Thành, cụm từ này được hình thành trong một thảo luận của anh với một người bạn khác, TS. Nguyễn An Nguyên. Tuy nhiên, anh cũng không rõ đã có ai sử dụng cụm từ này trước đó hay chưa.
3. Có một cụm từ khác có nghĩa gần tương tự với “trí thức cận thần”, đó là “trí thức phò chính thống”, do nhà văn Phạm Thị Hoài nêu ra. Tuy nhiên, theo tôi, nội hàm của hai cụm từ này có nhiều điểm khác biệt khá tinh tế.
4. Nếu ai đã thấy văn bản nào có cụm từ này rồi thì vui lòng báo cho tôi biết. Cá nhân tôi thấy cụm từ này có một nội hàm đáng suy ngẫm.
G. V. D.

Khí tiết Hoàng Diệu và những bài sử ca về Hà thành thất thủ



Kính tặng GS. Hoàng Tuỵ, hậu duệ Tổng đốc Hoàng Diệu
Nguyễn Phạm Hùng
image Hoàng Diệu tự là Quang Viễn, hiệu là Tĩnh Trai, xuất thân trong một gia đình nho học ở xã Xuân Đài, huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam. Thuở nhỏ ông rất thông minh, có tài văn học, đỗ Cử nhân năm 20 tuổi (1848), đỗ Phó bảng năm 25 tuổi (1853). Lúc đầu ông được bổ làm Tri phủ Tuy Phước, rồi Tri phủ Tuy Viễn (Bình Định). Do nhầm lẫn trong tra xét tội phạm, ông bị giáng chức và chuyển về làm việc ở huyện Hương Trà (Thừa Thiên). Sau đó, ông được phục chức, đổi làm Tri phủ huyện Đa Phúc (Phúc Yên), rồi thăng án sát tỉnh Nam Định, Bố chính tỉnh Bắc Ninh. Năm 1873 ông được thăng chức Tham tri bộ Hình, rồi Tham tri bộ Lại kiêm Đô sát viện, sung Cơ mật đại thần. Năm 1878 ông lại được thăng Tổng đốc An Tĩnh (Nghệ An – Hà Tĩnh). Cũng năm này, ông còn được cử làm Phó toàn quyền của Việt Nam đàm phán với Tây Ban Nha về việc thương mại của Tây Ban Nha ở Việt Nam. Năm 1879 ông làm Thượng thư bộ Binh. Năm 1880 được bổ làm Tổng đốc Hà Ninh (Hà Nội – Ninh Bình). Chính sự kiện này đã đưa ông trở thành nhân vật lịch sử sáng chói, là người tử tiết khi Hà thành thất thủ lần thứ hai (1882) bên cạnh Nguyễn Tri Phương, người đã tử tiết cùng thành Hà Nội thất thủ lần thứ nhất (1873).
Phẩm chất và khí tiết của Hoàng Diệu tiêu biểu cho tinh thần và khí phách của người Hà Nội nói riêng, của người Việt Nam nói chung, trong thời kỳ lịch sử đau thương và anh dũng khi phải đương đầu với lực lượng ngoại xâm phương Tây hùng mạnh. Ông trở thành một gương mặt tiêu biểu của văn hóa và văn học Thăng Long cuối thế kỷ XIX.


Một thời đại vinh quang và cay đắng. Thời đại của những anh hùng chiến bại. Thời đại của những người anh hùng phong kiến và nông dân, chống gươm gục ngã dưới làn đạn đại bác của bọn Tây dương, chết mà còn uất hận vì bất lực, vì ngỡ ngàng và thất vọng, chết vì lòng trung muôn thuở của lớp nhà nho ôm chí “tang bồng hồ thỉ” không thành. Chết tuy biết vì sao mình chết, do đâu mình chết mà không làm gì được. Chết một lần dưới làn đạn Tây dương. Chết thêm một lần về tinh thần bởi lòng trung bị khủng hoảng, bị phản bội, ấy là thời đại của những con người như Hoàng Diệu, ấy là những anh hùng cứu nước như Hoàng Diệu.
Hãy nghe lời ai oán của Hoàng Diệu, trong bài Di biểu, viết ngày 25 tháng Tư năm 1882, ngày đau thương của toàn dân Hà Nội nói riêng, của toàn dân tộc nói chung, ngày Hà thành thất thủ. Ông căm thù giặc Pháp. Ông oán trách triều đình nhu nhược, đớn hèn. Nhưng đến khi chết, ông vẫn mong những kẻ nhu nhược đớn hèn ấy, cả đấng chí tôn của ông, hiểu ông, cảm thông với ông, thâu nhận ông:
“Mấy dòng lệ máu, muôn dặm cửa trời, chỉ mong rực rỡ đôi vầng, xét thấu tấc gang là đủ”. Chỉ thế thôi. Ít ỏi, nhưng là tất cả, với một thần dân, một “bậc đại phu giữ bờ cõi”, về cái chữ “trung” cay nghiệt trói buộc con người ta. Và như thế, cũng đủ thấy ông trống trải, hoang mang, tuyệt vọng đến mức nào. Thất vọng vì vua, mà cũng hy vọng vào vua. Thật là mâu thuẫn.
Ông chết vì trung với vua chăng? Vì ông cố làm một tôi trung như bao tấm gương trung thần nghĩa sĩ trong sử sách ghi lại chăng? Câu chữ, giọng điệu của bài Di biểu có vẻ là như vậy. Mà lại có vẻ không là như vậy.
Ông không phủ nhận lòng ông vì vua. Mà ông cũng không giấu giếm rằng ông không theo ý vua. Có cái trắc trở ở ông nơi chọn câu, chọn chữ để nói cho hợp với khẩu khí nhà nho, khẩu khí kẻ trượng phu của một nước có vua hẳn hoi. Mà vẫn không nén được phải nói trắng ra những hậm hực, cay đắng của lòng mình, một con người phải sống và hành động theo trái tim mình, theo lý tưởng của mình, chứ không phải bị câu thúc bởi một thứ nhãn hiệu hình thức nào khác.
Có trăn trở, đó là cái trăn trở để tìm cách nói cho hợp khẩu khí nhà nho. Còn trong lòng ông đã sẵn một sự quyết định dứt khoát và rành mạch con đường hành động. Tuy nhiên, đó đâu phải là những quyết định dễ dàng. Đó là cả một cuộc đấu tranh, dằn vặt, căng thẳng trong mỗi con người mang tiếng kẻ sĩ thời này. Đó là sự rời bỏ những mệnh đề luân lý sơ cứng, hơn thế, những mệnh đề sống quan trọng nhất, mà cũng máy móc nữa, của con người được gói gọn trong mấy chữ của nho gia về lẽ cương thường.
Hoàng Diệu ở trong hoàn cảnh ấy – hoàn cảnh mà người ta không thể máy móc thực hiện mọi điều tiên thánh, tiên nho dạy. Trong một hoàn cảnh lịch sử hết sức cay nghiệt này, có khi người ta phải lựa chọn một trong hai con đường, mà sự lựa chọn nào cũng dường như là quá sức, hoặc là trở thành kẻ ngu trung, theo vua, hàng giặc; hoặc là trở thành người chống giặc, cứu nước, nhưng lại cam chịu tiếng nghịch thần.
Đã đành là kẻ sĩ thì phải luôn tâm niệm:
Hễ làm người chớ ở hai lòng; đã vì nước phải theo một phía
Trước làm nghĩa, sau cũng làm nghĩa, trước sau cho trọn nghĩa vua tôi.
(Hịch kêu gọi nghĩa binh đánh Tây)
Điều đó thật dễ dàng trong thời có những đấng “minh quân”, trong buổi thịnh trị, khi mà vua tôi trên dưới một lòng. Nhưng điều đó thật khó đối với kẻ sĩ Việt Nam ở cuối thế kỷ XIX, khi mà ông vua, dù muốn dù không, dù lý do này hay lý do khác, ít nhiều đã tách khỏi dân, khỏi nước, thì kẻ sĩ chân chính cũng khó có thể tuân theo.
Không phải ngẫu nhiên mà ở thời kỳ này, câu nói của Khổng Tử: “Kiến nghĩa bất vi vô dũng dã” (Thấy việc nghĩa không làm không phải là người dũng vậy) lại được đề cao một cách nhiệt liệt đến thế. Hầu như nhà nho yêu nước nào cũng nói tới nó. Hầu như sĩ phu, dũng sĩ nào cũng nói tới nó. Nó là nguyên tắc sống cao nhất của mọi người, kể cả người có học và kẻ quê mùa. Hơn nữa, đó cũng chính là chỗ dựa tinh thần của những con người vốn là sản phẩm của tư tưởng Nho giáo, của thời đại Nho giáo đã cuối mùa, đã mất hết sức sống trên phạm vị thế giới. Nhưng họ là Nho sĩ, mà là Nho sĩ thì không thể làm việc gì mà không có danh nghĩa. Mà lại phải là danh nghĩa chính đáng, “danh chính ngôn thuận”. Cái danh chính ấy là chữ “Nghĩa” của tiên thánh tiên Nho, vì đó là lời tiên thánh tiên Nho. Nó trở thành triết lý sống, là cứu cánh tinh thần của kẻ sĩ trong thời loạn.
Bởi vậy, đây là thời đại của những người anh hùng vì nghĩa mà hành động, vì nghĩa mà trung hay bất trung với vua, vì nghĩa cũng là vì dân, vì nước. Và vì nghĩa mà cái tiếng “bất trung” lại như được cảm thông, chia sẻ, thậm chí được chiêu tuyết. Bởi thế mới có một Trương Định: “Theo bụng dân phải chịu tiếng quân phù, gánh vác một vai khổn ngoại” (Nguyễn Đình Chiểu); một Nguyễn Duy Cung: “Thà làm ma có hồn trung vía nghĩa”; một Nguyễn Cao: “Thà chết đi cùng trời đất đi về”; một Hồ Huân Nghiệp: “Việc nghĩa phải làm, không kể đến thành bại”… Vì nghĩa chứ không phải vì cái gì khác mà những kẻ sĩ, những anh hùng thời đại này đã xông lên và ngã xuống dưới làn đạn của bọn Phú Lãng Sa xâm lược, và dưới cả búa rìu tinh thần của triều đình phong kiến nhu nhược, đớn hèn. Họ ngã xuống cho sự sống của cả dân tộc.
Biết bao tấm gương anh hùng hy sinh vì nghĩa đã làm sáng dậy một thời kỳ đen tối, mà trong đó, Hoàng Diệu rực rỡ như biểu tượng của tinh thần chiến đấu chống Pháp của cả thời đại. Tên tuổi Hoàng Diệu gắn liền với Hà Nội, với đất nước, trong cuộc chiến đấu sinh tử bảo vệ mảnh đất thiêng liêng này của dân tộc. Tấm gương Hoàng Diệu hy sinh vì nước đã khích lệ lớp lớp anh hùng đứng lên chống Pháp. Ngày 25 tháng Tư năm 1882 là ngày “quỷ khốc, thần sầu” trên thành Hà Nội, và cũng chính là ngày người anh hùng Hoàng Diệu biểu hiện rực rỡ tinh thần và khí phách quyết chiến của mình trước một đội quân xâm lược tàn ác và một triều đình run sợ.
Chỉ còn lại một bài Di biểu của Hoàng Diệu ghi lại vội vàng những nỗi niềm đau đớn của ông trước giờ tự tận, khi giặc phá được thành. Trong đó chất chứa bao hờn căm với lũ giặc ngoại xâm, lời oán trách đến chảy máu triều đình nhu nhược, u mê, phơi bày một tấm lòng son sắt tuyệt vời với dân với nước. Con người ông cứ tự hiện lên, rờ rỡ, lớn lao trên từng chữ, từng câu, thống thiết và cay đắng:
“Tôi từ khi vâng mệnh ra đây, đã được ba năm, thường huấn luyện quân sĩ, sửa sang thành trì, không những chỉ để củng cố đất ta, mà còn để ngăn chặn loài lang sói nữa. Ngờ đâu chim còn đang ràng tổ, thú đã vội thay lòng, ngày tháng Hai năm nay bỗng thấy tàu Tây tụ tập, dồn quân thêm nhiều, quân nó từ xa đến, lòng dân ta xôn xao. Tôi thiết nghĩ Hà Nội là cổ họng của miền Bắc, mà là đất trọng yếu của nước nhà, nên một khi mà sụp đổ, thì các tỉnh khác cũng tan rã theo, vì thế tôi lấy làm lo sợ, một mặt kíp tư cho các hạt lân cận, một mặt báo tin lên triều đình, xin cho thêm quân để kịp đối phó”.
Một tinh thần chiến đấu chống xâm lược thật quyết liệt và mạnh mẽ. Thế nhưng nỗi niềm ghi lại trong Di biểu lại là nỗi đớn đau, không phải vì giặc mạnh nên ông chống giữ không nổi, mà là vì triều đình, vì đám quan tướng triều đình nhút nhát hèn đớn chịu khoanh tay trước giặc dữ:
“Không ngờ mấy lần có chiếu xuống, hoặc trách tôi nắm binh quyền mà lòe nạt, hoặc kết tội tôi là xử lý không được thích nghi, cúi đọc lời phán truyền, thực nghiêm khắc hơn rìu búa! Kẻ dưới quyền thất vọng, khôn tính bước tiến lui”.
Đặt trong bối cảnh này, có thể xem nhận xét của Trần Văn Giàu trong Lời giới thiệu bộ Hợp tuyển thơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ XIX(1) là thích hợp: “Mối nguy cơ chính của dân tộc là triều đình Huế”. Hoàn cảnh Hoàng Diệu cũng là hoàn cảnh chung của mọi sĩ phu yêu nước chống Pháp thời kỳ này. Người ta không sợ súng đạn giặc Pháp: “Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào liều mình như chẳng có” (Nguyễn Đình Chiểu). Mối lo là những búa rìu do triều đình giáng xuống làm ly tán lòng người, làm nhụt chí chiến đấu. Làm cho người ta hoang mang, không đồng lòng, đồng sức đánh giặc. Tác giả khuyết danh của bài thơ Mất thành Hà Nội đã viết về khí tiết lẫm liệt, về cái chết trong bất lực và oán giận của Hoàng Diệu với triều đình cùng đám quan lại sợ chết lúc bấy giờ:
Trái phá Tây chăm chực bắn vào,
Chỉ không cho đánh, biết làm sao?
Ngọn cờ tướng lệnh oai linh gượng,
Chén rượu Đông môn khảng khái phào.
Uất khí Nùng sơn cây muốn cựa,
Thương tâm Nhị thủy sóng tranh xao,
Rặng hoa Võ Miếu rơi thơm mãi,
Sống trộm ghê trông thẹn biết bao.
Trong một bài chiếu dụ văn thân, vua Tự Đức đã công khai dọa nạt, ngăn cấm các nghĩa binh và sĩ phu tham gia đánh Pháp. Ông ta nói: “Bàn hòa là người có công, bàn chiến là kẻ có tội, pháp luật thực là đúng đắn”. Vua ngăn dân đánh giặc! Vua khen kẻ “cầu hòa” là để… giữ nước!
Đã qua rồi cái thời “vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, cả nước giúp sức” cùng kháng chiến, như xưa kia Trần Quốc Tuấn yêu cầu. Đã qua rồi cái thời quân tướng “hòa nước sông chén rượu ngọt ngào” như Nguyễn Trãi nếm trải. Đã qua rồi cái thời những ông vua – chiến sĩ khích lệ lòng tướng ở hội nghị Bình Than, khích lệ lòng dân ở hội nghị Diên Hồng dưới triều Trần… Một sự nhu nhược, đớn hèn ít nhiều có thể còn có sự o ép của thời cuộc. Vua thì thế, còn quan tướng của triều đình, như Hoàng Diệu thấy: “Quan võ thì sợ giặc chạy trốn từng đàn, quan văn nghe gió cũng chạy theo nốt”. Trước tình thế ấy, Hoàng Diệu không thể theo ý vua, không thể theo ý các quan trong triều được: “Hàng ngày bàn bạc với đôi ba người chức việc, có người bàn nên mở cổng cho chúng tự do ra vào; có người bàn nên rút hết quân đi, để chúng khỏi ngờ vực. Những kế đó dù tôi có phải thịt nát xương tan cũng không bao giờ nỡ làm”. Đó cũng là thái độ của các văn thân yêu nước đương thời đối với chiếu dụ của Tự Đức: “Thánh chỉ nói như thế, há không phải có ý quý âm rẻ dương, theo tà làm loạn chính đấy ư?” (Hịch văn thân Hà Nội gửi văn thân Nam Định).
Hoàng Diệu tự tận, vì biết sức kiệt thế cô, vì tỉnh ngộ một sự thật phũ phàng, đó là sự đầu hàng của triều đình Huế trước lũ giặc cướp nước. Ông nhìn thấy sự thất bại của sự nghiệp mình, cũng như những người đồng chí hướng với mình. Chỉ có cái chết mới giúp ông trốn khỏi nỗi tuyệt vọng của một người quá kiêu hãnh, quá hăng hái giúp đời, giúp nước. Cái chết sẽ giải thoát cho ông khỏi những ân hận và sự bất lực của người “sĩ quân tử” trong cơn dâu bể, biểu hiện một thái độ tuyệt đối “bất cộng đái thiên” với lũ giặc cướp nước: “Nơi trung thổ trở nên đất địch, sống thẹn cùng nhân sĩ Bắc Hà; lòng cô trung thề với thành Long, chết mong theo Nguyễn Tri Phương dưới đất” (Di biểu).
Hoàng Diệu mất. Giặc Pháp chiếm thành. Kể từ hôm ấy, ngày 25 tháng Tư năm 1882, đến hơn 60 năm sau, ngày 19 tháng Tám năm 1945, thành Hà Nội mới trở lại về tay người Việt Nam, sau bao hy sinh mất mát, bao máu và nước mắt. Giặc Pháp chiếm thành. Và từ đây, Hà Nội trở thành nơi tung hoành của những mụ Đội Chóp, những quan Tây, quan ta, những me Tây, những mụ đầm Tây…
Mảnh đất đế đô nghìn năm văn hiến bị giày xéo, thành nơi ăn chơi, hành lạc của bọn cướp nước và bán nước: “Để cho đất Thăng Long là nơi danh thắng, lại thành chim yến sợ phải vào rừng; ngựa Hồ uống nước qua sông, đuổi dồn chim nhạn bay về chằm lớn” (Hịch văn thân Hà Nội gửi văn thân Nam Định).
Đất nước tuy xưa, mà cảnh đã thay. Đó là cảm xúc đau đớn của nhiều nhà thơ viết về Hà Nội, hay những nơi chịu cảnh như Hà Nội. Đó là cảm giác ngỡ ngàng, chống chếnh, cô đơn trong nỗi hoài cổ da diết của thơ Tú Xương, “Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi dò” (Sông Lấp), hay cảm xúc của Nguyễn Khuyến về cảnh “biến cải vũng nên đồi” của Hà Nội những ngày này:
Thập niên thử địa thử trung thu
Thành quách y y cãnh dĩ thù
Bạch chúc hồng đăng mê viễn cận
Tố quan, thanh cái tạp thuỳ ngô
(Mười năm trước đây cũng tiết trung thu ta ở đất này,
Đến nay thành quách vẫn y nguyên, nhưng cảnh đã khác,
Nến trắng, đèn đỏ lấp loáng như gần như xa,
Mũ trắng, lọng xanh, ta với Tây lẫn lộn.)
(Tết trung thu năm Giáp thân ngụ tại HàNội cảm tác, gửi bạn đồng khoa là ông Cử họ Ngô)
Hoàng Diệu mất. Hà Nội lầm than. Nhưng tinh thần và khí phách Hoàng Diệu vẫn sống cùng nhân sĩ và dân chúng Hà Nội, giúp người Hà Nội sức mạnh để sống và chiến đấu. Những bài sử ca ca ngợi chiến công và khí tiết Hoàng Diệu, thái độ của nhân dân đối với giặc Pháp và triều đình nhu nhược. Hoàng Diệu trở thành biểu tượng bất tử của tinh thần chống Pháp của ngươi Hà Nội, của cả dân tộc Việt Nam trong những ngày đau thương, tang tóc ấy. Ca ngợi tấm gương Hoàng Diệu, khí tiết Hoàng Diệu, đó là sự gửi gắm lòng yêu nước của người Hà Nội, của người Việt Nam những tháng năm ấy. Hoàng Diệu trở thành một giá trị biểu trưng cho tinh thần chống Pháp tuyệt đẹp của người Hà Nội, của dân tộc ta. Cũng như biết bao anh hùng khác đứng lên giết giặc cứu nước và hi sinh vì nghĩa lớn, Hoàng Diệu đã hồi sinh trong tâm hồn người Việt Nam, cổ võ tinh thần triệu người đánh giặc. Hoàng Diệu chết mà vẫn đánh giặc:
Sử nhân giai tiên sinh
Hà thành hà chí bĩ?
Duy nhân bất tiên sinh
Hà thành cố nãi nhĩ
Công sinh hữu tử tâm
Công tử hữu sinh khí
Thị phi công luận gian
An túc vi công luỵ
(Nếu mọi người như ông
Hà thành đâu có thế?
Vì mọi người khác ông
Hà thành mới như vậy
Ông sống quyết liều chết
Ông chết vẫn như sống
Người đời bàn phải trái
Không làm luỵ đến ông)
(Điếu Hoàng Diệu tuẫn tiết)
Cực lục thiên thu truyền tiết liệt
Cô thần nhất tử kiến trung can
Thâu sinh tử nhật tâm do quý
Nghịch tặc đương niên cốt dĩ hàn
Thiên tải Nung sơn tiêu chính khí
Anh hùng đáo lệ xứ tương can
(Sử sách nghìn năm còn truyền tiết liệt,
Người cô thần lấy cái chết để tỏ gan trung nghĩa.
Những kẻ sống cẩu thả khi ấy hẳn còn xấu hổ,
Bọn nghịch tặc bấy giờ sợ mất mật.
Nghìn năm núi Nùng còn nêu chính khí,
Khách anh hùng tới đó dòng lệ ngổn ngang.)
(Sĩ tử Hà thành viếng Hoàng Diệu)
Đó là con người “sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc” (Nguyễn Đình Chiểu). Hàng loạt tác phẩm mang đề tài ca ngợi Hoàng Diệu ra đời, cùng biết bao những hình ảnh của bọn quan lại hèn nhát, tham sống, sợ chết được dựng lên, mà đằng sau nó là cả triều đình phong kiến nhà Nguyễn nhu nhược, hèn nhát làm thành cái nền xám xịt cho hình tượng Hoàng Diệu càng thêm cao, thêm sáng, thêm rực rỡ chói lọi.
Thơ văn thời kỳ này ra sức tuyên truyền, kêu gọi sĩ phu, nhân dân chống Pháp xâm lược. Đồng thời nó cũng ra sức tố cáo, phê phán triều đình, quan lại đầu hàng. Đánh Tây. Thì đã hẳn. Đó là cái việc nên làm, là vì nghĩa cả. Đánh vào triều đình, vào vua quan, đó mới là sự táo bạo và cương quyết của nhân dân, đặc biệt là của tầng lớp nhân sĩ trí thức từng được giáo dục công phu về luân thường đạo lý Nho giáo, về bổn phận và trách nhiệm phải tuân phục vô điều kiện “đấng chí tôn”. Người sĩ phu phong kiến thời kỳ này nhận thức rõ họ cần phải chống vua nào và cần phải theo vua nào. Họ chống Đồng Khánh vì Đồng Khánh theo giặc, nhưng họ lại theo Hàm Nghi, vì Hàm Nghi là ông vua kháng chiến, hành động theo yêu cầu của dân tộc. Họ vẫn mang một lòng trung son sắt với vua, nhưng đó phải là “minh quân”, chứ không phải là đám “hôn quân bạo chúa”. Nếu cần, họ sẵn sàng chống lại mệnh vua, thậm chí chống đối lại vua, nếu vua theo giặc, bán rẻ giang sơn gấm vóc.
Vì thế mà văn chương thời kỳ này đậm đặc tính hài hước, trào phúng, trong khi đả kích mạnh mẽ vào những kẻ sợ giặc, hàng giặc. Đó là những Đề đốc Lê Trinh tham sống sợ chết, lại giả dối tỏ ra muốn chết:
Thắt cổ, tay còn bưng lầy chạc,
Trầm mình, đầu lại gối lên cao.
Rờ lưng tìm thuốc, rơi đâu mất,
Tuốt vỏ gươm ra, cắt chẳng vào
(Khuyết danh – Vịnh quan Đề)
Đó là những Khâm sai đại thần, đứng hàng Nhất phẩm như Trần Đình Túc, phải uốn gối cúi đầu vâng dạ trước một mụ me Tây: “Nhất phẩm khâm gìa dạ dạ ran” (Vịnh cô Đội Chóp) v.v… Cái giọng châm biếm, mỉa mai đó không mất đi cả trong những bài sử ca hào hùng và bi thương về Hà thành thất thủ. Ta gặp lại ở đây cũng Đề đốc Lê Trinh mấy lần làm “động tác giả tự tử”:
Thế mà nghe những mơ hồ,
Rằng quan Đề đốc dưới hồ cửa Tây.
Kẻ rằng treo ở cành cây,
Kẻ rằng hẳn dưới giếng này chẳng chơi
(Hà thành chính khí ca)
Và nhiều nữa, những Tri phủ Hoài Đức, Tri huyện Thọ Xương, Tuần phủ Hoàng Hữu Xứng, án sát Tôn Thất Bá, v.v. Ngòi bút tác giả Hà thành chính khí ca đã khái quát bè lũ quan lại bán nước, hại dân bằng những câu cô đúc sau:
Khi bình làm hại dân ta,
Túi tham mở rộng chẳng tha miếng gì.
Đến khi hoạn nạn gian nguy,
Mắt trông ngơ ngác, chân đi gập ghềnh.
Căm lũ phản bội đê hèn bao nhiêu, lại càng thương xót người anh hùng quyết tử vì tổ quốc bấy nhiêu. Cũng là ăn lộc vua, lộc nước, nhưng chỉ một mình Hoàng Diệu dám vì dân, vì nước:
Được mấy kẻ anh tài phải đạo,
Đều ăn cơm mặc áo trên đời.
Đến khi có việc tày trời,
Trơ trơ chỉ thấy một người tận trung.
(Hà thành thất thủ ca)
Trong bài Di biểu, Hoàng Diệu viết: “Ngày mồng bảy tháng này, chúng hạ chiến thư, ngày hôm sau là chúng tiến đánh, quân chúng đông như kiến tụ, súng của chúng gầm như sấm vang; ngoài phố lửa cháy lan tràn, trong thành ai nấy táng đởm. Tôi vẫn gượng lệnh đốc chiến, đi trước quân lính, bắn chết được hơn trăm tên, giữ thành được nửa ngày. Vì chúng nó sung sức mà quân ta tuột hơi rồi, lại thêm tuyệt đường cứu viện, thế lâm đường cùng, quan võ thì sợ giặc chạy trốn từng đàn, quan văn nghe gió cũng chạy theo nốt. Lòng tôi đau như cắt, một tay không thể duy trì”. Đó là lời nói chân thực, ghi trực tiếp cái cảnh mà ông đang nếm trải, nên không che được nỗi thất vọng, ngao ngán, bất lực, đau xót của một kẻ biết mình đã thất bại. Cùng diễn tả cảnh chiến trận ấy, nhưng tác giả những bài sử ca có được một khoảng cách thời gian nhất định để kịp trấn tĩnh trước nỗi đau, để có thể nhìn nỗi đau vỡ thành ấy bằng con mắt lạc quan hơn, bình tĩnh hơn, bằng cái tinh thần và ý chí của chính mình, những người đang và sẽ tiếp tục sự nghiệp của Hoàng Diệu, biến nỗi đau thất bại thành lòng căm thù và hăng hái khích lệ mọi người noi theo Hoàng Diệu, tiếp tục chiến đấu. Chính vì vậy mà khí thế trận đánh này được diễn tả thật hào hùng:
Ra oai xuống lệnh vừa xong,
Bỗng nghe ngoài đã ầm ầm pháo ran.
Tiêm cừu nỗi giận xung quan,
Quyết rằng chẳng để chi đoàn chó dê.
Lửa phun súng phát bốn bề,
Khiến loài bạch quỷ hồn lìa phách xiêu.
Bắn ra kể chết cũng nhiều,
Phố phường trông thấy tiếng reo ầm ầm.
(Hà thành chính khí ca)
Cũng như Hoàng Diệu, tác giả các bài sử ca chỉ ra nguyên nhân thất bại chính là do triều đình nhu nhược, hèn nhát đã ngăn trở chiến đấu, do bọn quan tướng triều đình sợ chết, phản bội đã tiếp tay cho giặc:
Nội công phải những bao giờ,2
Thấy kho thuốc cháy, ngọn cờ ngả theo.
Quan quân sợ chết thảy đều,
Thành Tây, bạch quỷ đánh liều trèo ra.
(Hà thành chính khí ca)2
Tổng đốc Hoàng Diệu thế cùng, phải treo cổ tự vẫn trong vườn Võ Miếu. Như lời ông nói trong Di biểu, lòng trung của ông, vua khó mà nhận nổi. Vậy nên nó là tấm “cô trung”. Cho đến lúc này, ông chỉ thẹn cùng nhân dân, cùng các hào kiệt đang hăng hái đánh giặc, vì ông không giữ vẹn được thành, chứ không phải thẹn với vua, với triều đình bán nước hàng giặc. Đây quả là một tư tưởng lớn lao, táo bạo của Hoàng Diệu đã thức ngộ biết bao kẻ sĩ vẫn còn cấn cái chọn đường./.
N. P. H.
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

(1) Hợp tuyển thơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ XIX. Nxb. Văn học, Hà Nội, 1976.
2 Các trích dẫn tác phẩm lấy từ Hợp tuyển thơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ XIX. Nxb. Văn học, Hà Nội, 1976.

Tướng Lưu Á Châu bàn về văn hóa

Nguyễn Hải Hoành lược dịch
image Theo nhà nghiên cứu Dương Danh Dy, chúng ta không được phép quên Lưu Á Châu là con người hai mặt. Đó là một nhắc nhở hết sức đúng. Dòng máu Đại Hán trong Lưu thì cũng giống như trong bất kỳ một quan chức Trung Quốc nào kể cả phong kiến, dân quốc, hay cộng sản từ xưa tới nay khi họ áp dụng mọi thủ đoạn “ăn người” để khu xử với các nước lân bang theo lệnh bề trên. Duy cách tự phản tỉnh của một người như Lưu – chỉ ra căn cốt những chỗ hỏng của văn hóa Trung Quốc cổ truyền mà Đảng Cộng sản Trung Quốc vẫn cố sức bám lấy và đang dẫn cả xã hội Trung Hoa đến vực thẳm của tinh thần và đạo đức – trong bối cảnh hiện tại, thì hiếm có được người như ông Lưu. Nhắc đến nữ liệt sĩ Giang Trúc Quân và đồng đội chết thảm trong trại tập trung Tra Tử Động của Quốc dân đảng năm 1949 lúc mà Hồng quân đã tiến sát đến đấy, có thừa thời cơ cứu sống họ nhưng lại chần chừ không đến cứu vì sợ bị phản bội, Lưu nói: “Có người nói, thật đáng tiếc, các liệt sĩ ấy đã không nhìn thấy nước Trung Quốc mới. Mục tiêu phấn đấu mà họ theo đuổi sắp được thực hiện thế mà họ lại không được nhìn thấy. Tôi bảo anh nhầm rồi. Nói thực lòng, họ vô cùng hạnh phúc [...] Những người còn sống sót mới thực sự đau khổ. Họ nhìn thấy nước Cộng hòa nhân dân được thành lập, rồi sau đó là các phong trào chống phái hữu, tam phản ngũ phản, “Cách mạng Văn hóa”, những người bị cái đảng mà mình hiến dâng tính mạng hành hạ mình chết đi sống lại ấy mới là những người đau khổ nhất. Chết, chết không được. Sống, sống không thành. Cuối cùng để mất niềm tin và tín ngưỡng, chẳng khác gì cái thây ma biết đi. Đảng viên cộng sản mất tín ngưỡng thì là cái gì? Hãy nhìn bọn quan tham nhũng hiện nay thì khắc rõ. Bọn chúng tên nào cũng sợ chết, quan càng to càng sợ chết. Thứ trưởng Bộ Công an Lý Kỷ Châu khi bị bắt còn hung hăng lắm. Hắn nói: “Nếu tôi có vấn đề thì phải đem chém đầu một nửa Bộ Chính trị!” Đến lúc chuẩn bị đưa đi xử bắn, hắn quỳ xuống van xin: “Xin cho tôi một con đường sống”.
Không nói về quyết tâm vực lại một thể chế cộng sản Trung Hoa mục ruỗng vì tham nhũng bằng những biện pháp mạnh tay mà ở Việt Nam đừng bao giờ mơ tưởng, sự xuất hiện một dạng Lưu Á Châu vẫn còn là hạnh phúc cho Đảng Cộng sản Trung Hoa, bởi nó báo hiệu khả năng thay đổi về bản chất cái đảng này theo xu thế không cưỡng được của lịch sử – một đảng sừng sỏ trong số vài ba đảng còn sót lại của một loại hình đảng phái cầm quyền từng mọc lên nhan nhản ở thế kỷ XX, với khí thế ngút trời “gió Đông thổi bạt gió Tây” những tưởng một sớm sẽ ngự trị khắp toàn cầu, thì nay đã bị nhân loại xóa sổ không thương tiếc. Hãy cứ thử nhìn trở lại Việt Nam xem về tư tưởng khai sáng, những người đương chức đương quyền có ai bén được đến gót Lưu Á Châu hay không. Một Nguyễn Chí Vịnh với lý thuyết “ba không” chăng? Một Nguyễn Sinh Hùng với cái giọng “cố đấm ăn xôi” khi bắt cả Quốc hội theo mình làm đường sắt cao tốc chăng? Xin mượn lời một nhân vật rất giỏi ngửi văn trong Liêu trai chí dị: “Thôi đừng nhắc đến văn chương chúng nữa mà ta nôn ọe ra mất”.
Nguyễn Huệ Chi


Ngày nay Trung Quốc đang tiến những bước dài, đồng thời cũng để lộ ra không ít vấn đề. Tất cả mọi vấn đề đều hướng về chế độ mà mọi vấn đề về chế độ đều hướng về văn hóa, song tất cả mọi vấn đề về văn hóa đều hướng vào tôn giáo.
Tôn giáo quyết định văn hóa mà văn hóa thì quyết định tính cách dân tộc; tính cách dân tộc lại quyết định số phận dân tộc.
Xin nêu thí dụ chống tham nhũng. Trừng trị tham nhũng không thể diệt được tận gốc nạn tham nhũng. Có một biện pháp là hoàn thiện chế độ xã hội, mà phương pháp căn bản là bắt tay từ văn hóa. Thí dụ biện pháp “Lương cao nuôi dưỡng sự liêm khiết”. Ở Trung Quốc lương cao chưa chắc đã có thể nuôi dưỡng được sự liêm khiết. Tại sao thế? Văn hóa Trung Quốc có màu sắc “văn hóa gia đình” rất nặng. Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại [Trong 3 điều bất hiếu, điều lớn nhất là không có con nối dõi]. Càng nhiều con cháu càng lắm phúc. Đời cha nhất định phải để dành tiền của cho con cháu. Điều này khác hẳn văn hóa phương Tây. Những kẻ làm cha như chúng ta, lương bổng bản thân có cao đến đâu cũng vẫn muốn để dành cho con, bởi thế người ta vẫn cứ tham. Đây cũng là một nguyên nhân hình thành “văn hóa hối lộ” trong quan trường Trung Quốc.
Sự hình thành văn hóa Trung Quốc có 3 nhân tố chủ yếu: thứ nhất là hoàn cảnh sinh tồn; thứ hai là tôn giáo; thứ ba là chính sách ngu dân.
1. Hoàn cảnh sinh tồn
Từ xưa tới nay, số dân trên mảnh đất Trung Quốc này đều nhiều hơn châu Âu. Đàn bà Trung Quốc bị “văn hóa gia đình” biến thành máy đẻ.
Châu Âu có diện tích bình quân đất đai trên đầu người cao hơn Trung Quốc rất nhiều thế mà họ vẫn cảm thấy chật hẹp, không thở hít được nữa, phải khai thác vùng đất mới, bởi thế mà có việc khám phá các đại lục mới.
Người Trung Quốc thì tranh đấu trong hoàn cảnh ác liệt này. Phép sinh tồn rất khắc nghiệt. Nhưng khi nói về hình thành văn hóa mà chỉ nhấn mạnh hoàn cảnh là chưa đủ. Hoàn cảnh xấu tạo nên một loại văn hóa không thành công; hoàn cảnh tốt cũng vẫn có thể tạo dựng nên một loại văn hóa không thành công. Cần xem xét văn hóa Trung Quốc từ hai mặt. Từ xưa Trung Quốc đã có thảm thực vật rất tốt, khắp nơi là rừng. Vùng Sơn Tây có nhiều than đá như thế chứng tỏ thời cổ rừng ở đấy rất tốt. Do có quá nhiều rừng nên người ta chẳng cần đi quá xa nơi ở cũng có thể kiếm được gỗ, vì vậy người ta dùng gỗ để làm nhà, vừa đơn giản vừa đỡ mất công. Lâu ngày kiến trúc Trung Quốc bèn trở thành kiến trúc có hình thức kết cấu thổ mộc.
Khi tiến sang thời đại văn minh, các dân tộc châu Âu có môi trường ác liệt hơn Trung Quốc rất nhiều: rừng ít, đá lắm. Muốn làm nhà, họ chỉ có cách lấy đá trên núi mà làm. Lâu ngày nền kiến trúc phương Tây trở thành kiến trúc gạch đá. Qua nhiều nghìn năm, rừng của chúng ta bị đốn hết, các kiến trúc thổ mộc sụp đổ. Kiến trúc kết cấu gạch đá của phương Tây thì giữ lại được, rừng của họ cũng giữ được. Tại Ý, hiện nay vẫn thấy các kiến trúc có từ hai nghìn năm trước, tương đương đời nhà Tần nhà Hán. Tại Trung Quốc hiện nay cả đến kiến trúc đời nhà Minh cũng hiếm thấy.
2. Tôn giáo
Trung Quốc có ba tôn giáo chính là Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo (tôi gọi Nho học là một loại tôn giáo). Ba tôn giáo này có trách nhiệm không thể thoái thác đối với với sự hình thành trạng thái tâm lý và đạo đức ngày nay của người Trung Quốc. Lịch sử cho thấy ba tôn giáo trên căn bản không thể chấn hưng được dân tộc Trung Hoa.
Xin để tôi so sánh đối chiếu Ki Tô giáo với tôn giáo của Trung Quốc.
Văn hóa Trung Quốc dạy chúng ta “Nhân chi sơ, tính bản thiện” [con người lúc mới ra đời có bản tính lương thiện]. Tôn giáo của phương Tây thì ngược lại, cho rằng con người sinh ra đã là xấu [nguyên văn chữ Hán: ác], bản tính con người cũng xấu. Bởi vậy, tôn giáo phải hạn chế anh, bắt anh suy ngẫm về chính mình. Văn hóa phương Tây cho rằng loài người có tội tổ tông [Sáng Thế Ký trong Cựu ước chép chuyện thủy tổ đầu tiên của loài người là ông Adam và bà Eva không nghe lời răn của Thượng Đế, đã ăn vụng trái cấm, tức đã phạm tội]. Lòng người đen tối.
Trong số các đồng chí có người đã trải qua “Cách mạng Văn hóa”, xin hỏi cái đen tối nhất ở đâu? Cái đen tối nhất thì ở trong lòng người [Trong Cách mạng Văn hóa, vì để chứng tỏ sự trung thành với “minh chủ”, nhiều người Trung Quốc đã phạm những lỗi đạo đức khó có thể tưởng tượng, thí dụ bắn giết nhau, hành hạ thể xác và tinh thần vô cùng dã man chính bạn bè, đồng chí, đồng đội, đồng sự của mình; vợ từ bỏ chồng, con từ bỏ cha chỉ vì chồng, cha bị vu cáo là chống Đảng; có Hồng Vệ Binh cắt họng đồng chí mình dám nói sự thật...]. Tâm hồn mỗi người đều có mặt vô cùng bẩn thỉu. Văn hóa phương Tây mổ xẻ, hé lộ nó ra, trưng nó ra. Phê phán nó, kiềm chế nó. Văn hóa phương Đông thì ôm ấp nó, nuôi dưỡng nó. Nhà thờ ở phương Tây có phòng xưng tội [nguyên văn: sám hối]. Người ta vào nhà thờ trình bày với thánh thần các thứ trong tâm hồn mình.
Nói cho thần thánh nghe mọi cái xấu xa bẩn thỉu của mình thì người ta thấy nhẹ nhõm. Tâm hồn người ta được rửa sạch. Hồi sang Mỹ tôi có vào nhà thờ ngồi hẳn một ngày trời. Tôi phát hiện thấy một cảnh rất thú vị: mọi người ai nấy khi vào nhà thờ thì mặt mày ủ ê, khi đi ra thì sắc mặt thư thái nhẹ nhõm. Về sau tôi mới dần dà hiểu được bí quyết của chuyện ấy. Lâu ngày, người ta trở thành thành con người lành mạnh, con người có tâm trạng và tâm hồn đặc biệt kiện toàn. Con người ai cũng có ham muốn. Nhưng người ta phải kiềm chế ham muốn của mình, ai nấy ắt phải tự mình (chứ không phải người khác) kiềm chế bản thân.
Người Trung Quốc không biết kiềm chế mình, không biết tra khảo bản thân, thế là người ta đi kiềm chế kẻ khác, tra khảo kẻ khác. Quất roi và tra khảo bản thân là chuyện đau khổ. Chỉ khi nào trong lòng mình mãi mãi có tín ngưỡng, có tín ngưỡng vĩnh hằng với thần thánh, thì mới có thể làm được như thế.
Rất nhiều đồng chí đã đi thăm nhà thờ ở phương Tây. Ở đấy thánh thần xuất hiện với hình ảnh đầm đìa máu, chịu khổ chịu nạn. Jesus bị đóng đinh trên giá chữ thập. Đức Mẹ không đổ máu nhưng rơi lệ. Đấy thực sự là hóa thân của con người, là hóa thân của sự khổ nạn và tư tưởng của con người. Thần thánh trong tôn giáo phương Tây nhìn vào tựa như thần thánh, thực ra là con người. Cái chết của Jesus đã hoàn tất việc ngài lột xác [nguyên văn: thoát biến] từ thánh thần thành con người. Chỉ con người mới chết.
Nhưng thánh thần trong các đền miếu của Trung Quốc thì mới là thánh thần. Bạn hãy xem hình ảnh các vị thần thánh ấy: bụng chảy xệ, nét mặt chẳng lo nghĩ gì sất, nhăn nhở cười cợt, thụ hưởng của thờ cúng. Vị nào vị ấy ăn đến béo rụt đầu rụt cổ.
Người phương Tây đến nhà thờ là để sám hối. Chúng ta lên đền lên chùa là để hối lộ. Chẳng phải thế hay sao? Vì muốn làm được một chuyện gì đây, chúng ta khấn vái thần thánh, bỏ tiền mua mấy nén hương thắp lên hoặc bày lên mâm những thứ dân gian thường ăn như trái cây gì gì đó, rồi im lặng cầu nguyện. Như thế chẳng phải hối lộ thì là gì?
Người phương Tây đến nhà thờ để giải thoát nỗi khổ về tinh thần. Chúng ta lên đền chùa để giải quyết nỗi khổ trong đời sống thực tế. Thần thánh trong tôn giáo phương Tây luôn luôn chịu khổ còn nhân dân thì không chịu khổ. Thần thánh trong tôn giáo phương Đông thì hưởng thụ, còn dân chúng thì chịu khổ. Đây là khác biệt lớn nhất giữa tôn giáo phương Đông với phương Tây.
Ở nước ngoài, nhà thờ bao giờ cũng xây dựng tại trung tâm đô thị, gần gũi với dân. Đền chùa Trung Quốc thì bao giờ cũng xây dựng trong rừng sâu núi cao, xa rời dân. Tôi từng nói người Trung Quốc về cơ bản là một dân tộc không có tín ngưỡng. Nói không có tín ngưỡng không phải là không có hình thức tín ngưỡng. Ngược lại, những thứ người Trung Quốc tín ngưỡng thì phức tạp nhất, người ta tin cả các đại sư khí công. Cái quái gì cũng tin lại chính là chẳng tin cái gì hết. Trong lòng người Trung Quốc không có vị trí của một vị thần thánh vĩnh hằng. Nói sâu một chút, tức là chẳng có sự mưu cầu theo đuổi tinh thần văn hóa có tính tận cùng! Loại người đó không mở rộng phạm vi quan tâm của mình ra tới bên ngoài gia đình, thậm chí cá nhân. Nếu mở rộng sự quan tâm ấy ra thì nhất định sẽ là làm hại kẻ khác. Một dân tộc như vậy sao lại không “năm bè bảy mảng” kia chứ?
Tại phương Tây, khi trên đường có một chiếc xe hỏng thì hầu như tất cả các xe khác đều dừng lại, người ta đến hỏi anh có cần giúp đỡ gì không. Tại Trung Quốc thì hầu hết xe đều bỏ đi, khó khăn lắm mới có người dừng xe hỏi anh, có lẽ tôi còn ngờ vực, anh làm gì thế? Anh có mục đích gì.
Phương Tây đã thắng trong cuộc cạnh tranh với phương Đông cả nghìn năm nay. Tôn giáo phương Tây đã thắng trong cuộc cạnh tranh với tôn giáo phương Đông. Thắng lợi của tôn giáo là thắng lợi thế nào? Tôi cho rằng đó là một loại thắng lợi về tinh thần. Không có tín ngưỡng thì không có sức mạnh tinh thần. Cái chúng ta thiếu lại chính là cái người ta có.
Hãy nói về chuyện xây đền chùa. Phương Tây khi xây đền chùa thường là bạt hẳn một quả đồi. Đó là một kiểu khí thế, một kiểu dũng khí đấu tranh với thiên nhiên. Người Trung Quốc xây đền chùa thường hay xây trong núi sâu. Xem ra là hòa nhập cùng núi rừng thành một khối, trên thực tế là một kiểu đầu cơ. Có một bức tranh cổ tên là Ngôi chùa cổ trong núi sâu, rất nổi tiếng, nhưng nhìn vào tranh chẳng thấy một bức tường hay một viên ngói nào cả. Bức tranh vẽ gì vậy? Một lối mòn chạy giữa hai quả núi, một nhà sư quẩy đôi thùng đi gánh nước. Rốt cuộc bức họa có ý gì? Là nói ngôi chùa cổ trong núi sâu, chùa và núi hòa làm một với nhau. Chúng ta khẳng định rằng ý của bức họa rất khôn khéo.
Người Trung Quốc có tâm lý đầu cơ rất nặng, ai cũng chỉ muốn không làm mà hưởng. Ngày nay, trong thời đại cải cách mở cửa, có biết bao nhiêu người lao vào biển thương mại, ai nấy đều nghĩ “Ngày mai đến lượt mình [làm giàu] rồi”, Họ muốn làm cái bộ phận “Để một số người giàu lên trước” ấy. Sau nhiều năm được giáo dục “Vì nhân dân phục vụ” mà họ lại đều muốn trở thành đối tượng đựơc phục vụ.
Người Trung Quốc trước đời Tần thì không như thế. Sau đời Hán, đặc biệt sau khi Lưu Triệt [tức Hán Vũ Đế, 156-87 trước CN] độc tôn Nho thuật [tức Nho học, Nho giáo] thì người Trung Quốc đã thay đổi.
Tôi rất thích đọc bộ Sử ký [của Tư Mã Thiên]. Đọc hết sách này mà chẳng thấy có đoạn nào viết về những kẻ phản bội. Ngày nay chúng ta có biết bao nhiêu kẻ phản bội! Thời xưa có rất ít kẻ cáo giác. Thời nay thì khắp nơi đều có!
Chính ủy Đại học công trình không quân Vương Hồng Sinh đến thăm tôi. Hồi ở Ban chính trị không quân, anh ấy và tôi là chiến hữu với nhau. Hai chúng tôi nhắc đến một chuyện thế này: đơn vị Vương Hồng Sinh có một anh cán sự, là người được lãnh đạo rất coi trọng. Một đồng sự của anh ta ngủ với gái; vị cán sự ấy bèn vác ghế đến ngồi lỳ tận nửa đêm ngoài cửa nhà người đồng sự, cho tới lúc bắt được hai người kia hủ hóa với nhau. Anh cán sự được biểu dương. Tôi than thở căm tức mãi không thôi. Tôi bảo: sức mạnh nào đã chi phối anh ta ngồi trong bóng đêm lâu đến thế? Tuyệt đối là một loại ý thức phạm tội.
Thời xưa, Bảo Định, Dịch Thủy là nơi sinh ra những Kinh Kha, Cao Tiệm Ly, Điền Quang, Phàn Ư Kỳ [bốn nhân vật anh hùng nổi tiếng trong vụ ám sát không thành Tần Thủy Hoàng]. “Gió vù vù, hề, sông Dịch lạnh ghê, Tráng sĩ một đi, hề, không trở về” [câu thơ Kinh Kha cảm tác khi qua sông Dịch trên đường đi mưu sát Tần Thuỷ Hoàng]. Trong kháng chiến chống Nhật, phủ Bảo Định có nhiều Hán gian [nguyên văn: Nhị cẩu tử, tên thời trước gọi cảnh sát] nhất. Hồi làm ở Hội Nhà văn tôi có đến Bảo Định sưu tầm dân ca. Một ông nông dân hát cho tôi nghe một bài ca ngày xưa: “Năm ấy giặc Nhật đến làng, chúng tôi vác súng đi lính…… ” Về sau tôi mới biết ông ta đi lính gì. Lính ngụy.
Ở nước ngoài không phải là không có kẻ phản bội, nhưng ít hơn nhiều so với Trung Quốc. Sức mạnh nào đã tác động đến người ta? Sức mạnh tinh thần.
Năm 1986 tôi sang Mỹ. Đêm khuya ra đường, đèn tín hiệu giao thông bật đỏ, chẳng thấy chiếc xe nào chạy cả, tất cả xe đều tự động dừng lại ở ngã tư. Tôi không hiểu, bảo người Mỹ sao mà ngốc thế nhỉ. Về sau tôi mới biết đấy là sự tự kiềm chế của họ. Kiềm chế bản thân là cứu vớt tâm hồn. Việc nhỏ đã thế, việc lớn lại càng thế.
Người Nhật nói, trận địa Trung Quốc rất dễ bị chọc thủng. Lê Minh [triết gia Trung Quốc đương đại nổi tiếng là “khùng”] nói rất hay: “Tôn giáo Trung Quốc biến dân chúng thành bầy cừu”.
Đều là cố thủ trận địa, người phương Tây tuy cũng sợ nhưng họ có thể kiềm chế bản thân. Chúng ta thì sao? Trước hết là mong người khác làm bia đỡ đạn. Thấy người khác bỏ chạy thì nghĩ, vì sao mày chuồn? Tao cũng chuồn. Mày đi lính ngụy no nê cơm rượu, tao cũng đi. Mày tham ô, tao cũng tham ô. Tao không chịu kém mày. Tại các nước phương Tây không phải không có chuyện ăn hối lộ nhưng nhìn chung ít hơn chúng ta. Khi nhận hối lộ, lương tâm và tinh thần người ta sẽ ràng buộc họ.
Phó Chủ tịch Trì Hạo Điền [Thượng tướng, sinh 1929, thời gian 1998-2003 làm Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương kiêm Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc] có kể một chuyện để lại ấn tượng rất sâu sắc đối với tôi. Ông kể, trong thời kỳ chống Nhật vùng căn cứ địa Giao Đông có bảy tám tên lính Nhật vác cờ mặt trời [tức quốc kỳ Nhật] đi càn, ba bốn chục nghìn quân dân căn cứ địa bỏ chạy hết. Sói đuổi cừu mà.
Trên xe buýt một cô gái bị cướp, xe đầy ắp người mà chẳng ai ho he. Cô gái xúc động thốt lên: “Cha tôi kể năm xưa một tên giặc Nhật cai quản cả một huyện của chúng ta. Ngày ấy tôi không tin, bây giờ thì tin rồi”.
Hồi “Cách mạng văn hóa”, ga xe lửa lúc nào cũng đông nghịt. Khi tàu đến, người ta chen nhau ùa vào ga lên tàu. Một cô nhân viên soát vé nói: các ông bà đông thế này, một đứa con gái như tôi không thể nào giữ được ai, mà tôi cũng chẳng muốn làm thế. Bắt giữ ai nào? Giữ người đầu tiên chen vào. Thế là ai nấy ngoan ngoãn xếp hàng.
3. Kẻ thống trị các thời kỳ trước kia thực hành chính sách ngu dân
Tôn giáo Trung Quốc có mấy loại, tuy khác nhau về tư tưởng nhưng trên mặt chủ nghĩa chống hiểu biết hoặc chủ trương ngu dân thì đều như nhau. Chính vì thế mà tôn giáo mới được tầng lớp thống trị coi trọng. Dưới sự giáp công của văn hóa tôn giáo và chính sách ngu dân của bọn thống trị, người Trung Quốc hình thành quần thể như ngày nay. Người Trung Quốc giỏi nhất về chuyện ca tụng công đức, thứ nhì là tố giác, thứ ba là giở thủ đoạn, cuối cùng là khôn ngoan bo bo giữ mình [nguyên văn: minh triết bảo thân].
Người Mãn Thanh thống trị Trung Quốc thành công nhất. Họ hiểu rõ đặc tính quan trường của người Trung Quốc: dốc lòng trung thành với cá nhân, không trung thành với nhà nước. Ai có vú thì người ấy là mẹ [Ai có sữa cho bú thì nhận người ấy làm mẹ. Ý nói vì tham lợi mà vong ân bội nghĩa, ai cho mình quyền lợi thì theo người đó].
Trong việc thống trị ba dân tộc Hán, Mông, Tạng ở Trung Quốc, người Mãn Châu nhằm vào các đặc điểm khác nhau của ba dân tộc này để sử dụng những mánh khóe khác nhau. Người Tây Tạng tin Phật Giáo, triều đình nhà Thanh cho dựng ngay tại Thừa Đức [1 trong 10 địa điểm danh lam thắng cảnh nổi tiếng nhất Trung Quốc, cách Bắc Kinh 180 km] một ngôi chùa phỏng theo kiểu chùa Tây Tạng, đón Lạt Ma về kinh đô làm ông lớn. Người Mông Cổ nhanh nhẹn dũng mãnh thì dùng thủ đoạn hôn nhân, gả con gái hoàng tộc cho vương công Mông Cổ. Mày đẻ ra con trai thì nó là cháu ngoại tao. Đối với người Hán thì dùng khoa cử. Người Hán có tật thích làm quan. Chỉ cần cho mày làm quan, tựa như quẳng khúc xương cho con chó, là mày cúi đầu cụp tai ngoan ngoãn nghe theo.
Hồi tôi sang Mỹ, thầy hướng dẫn tôi là người chuyên nghiên cứu về Mao Trạch Đông. Ông ấy cho rằng trong đời mình, Mao Trạch Đông tổng cộng làm được 31 việc:
1- Năm 1921 vào Đảng; 2- Năm 1925 chuyển sang theo nông dân; 3- Năm 1923-1927 vào Quốc dân đảng; 4- Năm 1928 xây dựng căn cứ địa ở nông thôn; 5- Xây dựng Khu Xô-viết Giang Tô; 6- Sự kiện Phú Điền [sự kiện nội bộ đảng CSTQ thanh trừng giết nhầm nhiều cán bộ của đảng năm 1930 tại căn cứ địa Phú Điền tỉnh Giang Tô]; 7- Năm 1925 đi Trường chinh; 8- Hội nghị Tuân Nghĩa [hội nghị mở rộng Bộ chính trị ĐCSTQ họp tháng 1/1935 tại Tuân Nghĩa tỉnh Quý Châu, xác lập quyền lãnh đạo của Mao Trạch Đông; được coi là bước ngoặt của cách mạng Trung Quốc]; 9- Tranh giành quyền lãnh đạo Đảng CSTQ với Trương Quốc Đào; 10- Năm 1937 hợp tác với Quốc dân đảng; 11- Kết hôn với Giang Thanh; 12- Chỉnh phong ở Diên An; 13- Đại hội VII xác lập tư tưởng Mao Trạch Đông; 14- Giành chính quyền trên cả nước; 15- Tiến hành cải cách ruộng đất; 16- Năm 1950 tham gia cuộc chiến tranh Nam Triều Tiên; 17- Sự kiện Cao Cương [nguyên Phó Chủ tịch nước CHND Trung Hoa; năm 1954 bị kết tội chia rẽ đảng, bị kỷ luật, tự tử chết 1954]; 18- Tam phản ngũ phản [hai phong trào trong thời gian cuối 1951 đến 10/1952. Tam phản: chống tham ô, lãng phí và quan liêu; Ngũ phản: trong ngành công thương nghiệp tư doanh chống hối lộ, trốn thuế và lậu thuế, lấy cắp tài sản nhà nước, làm ăn gian dối, đánh cắp tình báo kinh tế]; 19- Công tư hợp doanh và hợp tác xã nông nghiệp; 20- Chống phái hữu; 21- Đại Nhảy vọt; 22- Hội nghị Lư Sơn [hội nghị mở rộng Bộ chính trị và hội nghị lần 8 trung ương ĐCSTQ, cách chức Bộ trưởng Quốc phòng của Bành Đức Hoài]; 23- Cắt đứt quan hệ với Liên Xô; 24- Chuẩn bị đánh đổ Lưu Thiếu Kỳ; 25- Phát động cách mạng văn hóa; 26- Giúp Việt Nam chống Mỹ; 27- Xác định Lâm Bưu là người kế vị; 28- Tan băng quan hệ với Mỹ; 29- Nâng đỡ Nhóm Bốn Tên; 30- Đánh đổ Đặng Tiểu Bình; 31- Bố trí Hoa Quốc Phong làm người kế vị.
Tôi nghiên cứu kỹ 31 sự việc này, phát hiện thấy trong đó có 20 sự việc liên quan tới hủy hoại tinh thần và đạo đức con người. Đến năm 1966, cuối cùng Mao Trạch Đông phát động cuộc Cách mạng Văn hóa chưa từng có trong lịch sử, làm cho kinh tế Trung Quốc đi tới bờ vực sụp đổ, càng làm cho phẩm chất đạo đức của nhân dân toàn quốc hạ thấp xuống tới mức đáng sợ, nhà nước mấy lần sa vào tình cảnh muôn đời không phục hồi được.
Tinh thần là cái gốc lập mệnh của mỗi con người, là cái gốc lớn mạnh của một dân tộc, cái gốc sinh tồn của một quốc gia. Cái gì cũng có thể không có nhưng tinh thần thì không thể không có.
Cách đây ít lâu khi xuống sư đoàn 33 Không quân, tôi có đến thăm trại tập trung Tra Tử Động. Nhiều liệt sĩ như Chị Giang [tên thân mật gọi Giang Trúc Quân, nữ liệt sĩ cách mạng Trung Quốc, 1920-1949] đã hy sinh tại đây. Hồi ấy nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã thành lập. Chị Giang đang ở trong tù mà vẫn thêu một lá cờ đỏ năm sao. Chị chưa biết mẫu của cờ đỏ năm sao như thế nào, cho nên đã thêu ngôi sao lớn nhất vào chính giữa lá cờ, 4 ngôi sao nhỏ ở 4 góc. Khi bọn Quốc dân đảng chuẩn bị làm cuộc đại tàn sát tù nhân thì Quân Giải phóng đã tiến tới gần Bạch Thị Dịch. Đội du kích Hoa Doanh Sơn bắt được liên lạc với Quân đoàn 47. Đội du kích nói: Các đồng chí mau tiến quân đi, trại tập trung Tra Tử Động sắp hành quyết các chính trị phạm. Nhưng Quân Giải phóng cho rằng đội viên du kích Hoa Doanh Sơn là tên lừa đảo, có thể là bẫy kẻ địch cài, cho nên họ không hành động. Kết quả là cuộc tàn sát bắt đầu. Các liệt sĩ hiên ngang đi tới chỗ chết.
Có người nói, thật đáng tiếc, các liệt sĩ ấy đã không nhìn thấy nước Trung Quốc Mới. Mục tiêu phấn đấu mà họ theo đuổi sắp được thực hiện thế mà họ lại không được nhìn thấy.
Tôi bảo anh nhầm rồi. Nói thực lòng, họ vô cùng hạnh phúc. Tín ngưỡng trong lòng họ sắp được thực hiện, chết vào lúc đó không phải là nỗi đau mà là một niềm hạnh phúc. Những người còn sống sót mới thực sự đau khổ. Họ nhìn thấy nước Cộng hòa nhân dân được thành lập, sau đó là các phong trào chống phái hữu, tam phản ngũ phản, “Cách mạng Văn hóa”, những người bị cái đảng mà mình hiến dâng tính mạng hành hạ mình chết đi sống lại ấy mới là những người đau khổ nhất. Chết, chết không được. Sống, sống không thành. Cuối cùng để mất niềm tin và tín ngưỡng, chẳng khác gì cái thây ma biết đi.
Đảng viên cộng sản mất tín ngưỡng thì là cái gì? Hãy nhìn bọn quan tham nhũng hiện nay thì khắc rõ. Bọn chúng tên nào cũng sợ chết, quan càng to càng sợ chết. Thứ trưởng Bộ Công an Lý Kỷ Châu khi bị bắt còn hung hăng lắm. Hắn nói: “Nếu tôi có vấn đề thì phải đem chém đầu một nửa Bộ Chính trị !” Đến lúc chuẩn bị đưa đi xử bắn, hắn quỳ xuống van xin: “Xin cho tôi một con đường sống”. ./.
NHH lược dịch và ghi chú trong ngoặc [ ].
Người dịch gửi trực tiếp cho Bauxite Việt Nam
Dịch từ: Comment-cn

Monday, November 1, 2010

Nguyên văn bài nói “châm ngòi” của ĐBQH Nguyễn Minh Thuyết về vụ Vinashin tại QH sáng nay 1/11/2010

GS Nguyễn MinhThuyết
Nguyễn Minh Thuyết
(ĐBQH Lạng Sơn)
-
Kính thưa Quốc hội.
Theo Báo cáo của Chính phủ, năm 2010 này nước ta đã đạt và vượt 16/21 chỉ tiêu do Quốc hội đề ra. Cũng như đông đảo người dân tôi rất hân hoan trước tin vui này và sự trân trọng những kết quả đã đạt được. Tuy nhiên tôi cũng vô cùng lo lắng trước những khuyết điểm nghiêm trọng trong điều hành nền kinh tế, phân tích chưa sâu, chưa đủ cụ thể và nghiêm khắc. Trong thời gian có hạn tôi chỉ tập trung nói về vụ Tập đoàn công nghiệp tàu thủy Việt Nam Vinashin sụp đổ. Vâng, thực sự nó đã sụp đổ, mặc dù chúng ta có thể dùng từ ngữ nhẹ nhàng hơn theo truyền thống tu từ của mình. Tập đoàn Vinashin sụp đổ đã trút lên vai đồng bào món nợ khổng lồ không dưới 100.000 tỷ đồng. Món nợ mà một tỉnh thu nhập cỡ 1000 tỷ đồng một năm phải làm quần quật không mua sắm, ăn uống, may mặc gì suốt, một thế kỷ mới trả nổi. Đối với đồng bào nhiều nơi nhất là nông thôn. miền núi thì trả món nợ khổng lồ này có nghĩa là chậm làm đường, làm cầu, xây trường, xây bệnh viện v.v… những nhu cầu rất thiết yếu của cuộc sống đồng bào. Sai phạm trong chỉ đạo điều hành thì đã rõ. Nhưng có một câu hỏi đến nay vẫn chưa có câu trả lời là ngoài lãnh đạo Vinashin còn những ai phải chịu trách nhiệm về những sai phạm này.
Báo cáo của Chính phủ cho biết Chính phủ có trách nhiệm và đã nghiêm túc kiểm điểm, nhưng cụ thể như thế nào? Theo tôi hiểu trong trường hợp này các thành viên Chính phủ có liên quan phải kiểm điểm và nhận kỷ luật trước Quốc hội – cơ quan đại diện nhân dân cả nước bầu ra mình. Không thể chỉ nhận khuyết điểm một cách chung chung và tuyên bố đã kiểm điểm nội bộ là rũ xong trách nhiệm.
Vụ việc này nhắc tôi nhớ đến vụ án Lã Thị Kim Oanh ở Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cách đây hơn 6 năm. Vì nuông chiều, luôn áp dụng những siêu cơ chế cho công ty của Lã Thị Kim Oanh dẫn đến thất thoát trên 100 tỷ đồng mà một vị Bộ trưởng đang rất được lòng dân, được lòng đại biểu Quốc hội đã phải từ chức và 2 vị Thứ trưởng đã phải ra trước vành móng ngựa. Vinashin là một kiểu Lã Thị Kim Oanh phóng đại cỡ 1000 lần. Thẩm tra Báo cáo của Chính phủ về công tác phòng, chống tham nhũng năm nay, Ủy ban Tư pháp của Quốc hội đã nhận định có dấu hiệu bao che cho những sai trái, vi phạm pháp luật của Vinashin, làm thiệt hại lớn đến tiền và tài sản Nhà nước. Nhưng ai bao che? Bao che thế nào? Vì nguyên nhân gì? Nhằm mục đích gì và phải chịu trách nhiệm ra sao thì Ủy ban Tư pháp chưa có điều kiện kết luận. Thế mà nếu Quốc hội không làm rõ được điều này thì không hoàn thành nhiệm vụ trước Đảng, trước dân.
Vì vậy, căn cứ Hiến pháp và Luật tổ chức Quốc hội, tôi trân trọng đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội tổ chức để Quốc hội biểu quyết thành lập Ủy ban lâm thời điều tra trách nhiệm của các thành viên Chính phủ trong vụ việc này. Trên cơ sở đó vào thời gian cuối kỳ họp bỏ phiếu tín nhiệm Thủ tướng và một số thành viên Chính phủ có liên quan. Để tạo điều kiện cho công tác điều tra của Ủy ban lâm thời, tôi đề nghị Quốc hội tạm đình chỉ chức vụ của các vị cần được điều tra.
Thưa quý vị Chủ tọa,
Thưa quý vị đại biểu khách mời,
Nói những điều trên tôi cảm thấy rất đau xót và khó khăn, nhưng chúng ta có xử lý nghiêm vụ việc này thì mới thể hiện được sự công minh của pháp luật, hạn chế được những dự án làm ăn phá của bốc trời, đưa hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước vào quỹ đạo lành mạnh, đảm bảo cho kinh tế phát triển bền vững và lấy lại được niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và quyết tâm của Đảng và Nhà nước ta thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tham nhũng.
Thưa quý vị, hôm nay tôi đọc một bài đã chuẩn bị sẵn là để ngay sau buổi họp này trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội như một kiến nghị chính thức của đại biểu. Trân trọng đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội khẩn trương xem xét và cho biểu quyết về kiến nghị của tôi. Xin trân trọng cảm ơn.

Còn bài này đăng trên Tuoitre.vn:
 Vinashin thực sự đã sụp đổ
Thứ Hai, 01/11/2010, 14:38 (GMT+7)
Đại biểu Nguyễn Minh Thuyết:
“Vinashin thực sự đã sụp đổ”
* Đề nghị Quốc hội thành lập Ủy ban lâm thời để điều tra về trách nhiệm liên quan vụ Vinashin
TTO - Cuộc thảo luận tại hội trường Quốc hội ngày 1-11 về tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2010 đã trở thành cuộc “truy” trách nhiệm thẳng thắn của các đại biểu Quốc hội liên quan vấn đề thua lỗ của Vinashin.
Đại biểu Nguyễn Minh Thuyết: Ngoài lãnh đạo Vinashin thì ai sẽ chịu trách nhiệm về vấn đề này?" - Ảnh: Việt Dũng
Vinashin thua lỗ 120.000 tỷ đồng?
"Vinashin thực sự đã sụp đổ mặc dù chúng ta dùng những từ ngữ tu từ nhẹ nhàng để diễn đạt. Nói cách gì đi nữa thì thực sự Vinashin cũng đã sụp đổ. Vinashin sụp đổ vì thua lỗ khoảng 100.000 tỷ đồng, sồ tiền này người dân phải gánh chịu. Một phần trong số này lẽ ra chúng ta đã xây dựng được những con đường cho người dân miền núi. Ngoài lãnh đạo Vinashin thì ai sẽ chịu trách nhiệm về vấn đề này?".
Đại biểu Nguyễn Minh Thuyết đã mở đầu vấn đề Vinashin (Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam) như vậy.
"Căn cứ hiến pháp và luật tổ chức Quốc hội, tôi đề nghị Quốc hội nên thành lập Ủy ban lâm thời để điều tra về trách nhiệm của những thành viên chính phủ"
Đại biểu Nguyễn Minh Thuyết
Và ông Thuyết đề nghị thẳng thắn: "Căn cứ hiến pháp và luật tổ chức Quốc hội, tôi đề nghị Quốc hội nên thành lập Ủy ban lâm thời để điều tra về trách nhiệm của những thành viên chính phủ. Nói ra những điều này tôi thực sự rất đau lòng nhưng tôi thấy cần phải làm vì hậu quả và ảnh hưởng của Vinashin để lại rất lớn, phải làm để lấy lại niềm tin của nhân dân về quyết tâm chống tham nhũng, lãng phí". 
Từ vụ Lã Thị Kim Oanh gây thất thoát 100 tỷ đồng, một bộ trưởng đã từ chức và hai Thứ trưởng đã phải hầu tòa, đại biểu Thuyết nói: "Vinashin là một kiểu Lã Thị Kim Oanh phóng đại gấp 1.000 lần".
Đại biểu Lê Văn Cuông (Thanh Hóa) cho rằng Vinashin đã được cảnh báo sớm nhưng vì có những dấu hiệu bao che, lơ là nên mới xảy ra như vậy. Con số thua lỗ lên đến khoảng 120.000 tỷ đồng, nếu tính bình quân tổng số dân Việt Nam, mỗi người từ già đến trẻ, từ lớn đến bé phải gánh 1,5 triệu từ nợ Vinashin. 
Đại biểu Lê Văn Cuông: Có những dấu hiệu bao che, lơ là với Vinashin - Ảnh: Việt Dũng
Ông Lê Văn Cuông cũng tán thành ý kiến của đại biểu Nguyễn Minh Thuyết đề nghị Quốc hội lập ủy ban lâm thời nhằm điều tra chấn chỉnh kịp thời những yếu kém của các tập đoàn khác.
Các đại biểu Huỳnh Ngọc Đáng (Bình Dương), Nguyễn Văn Sỹ (Quảng Nam), Phạm Thị Loan (Hà Nội) cũng nhấn mạnh về vấn đề thua lỗ của tập đoàn Vinashin. Bà Loan đặt vấn đề việc không tuân thủ pháp luật gây hậu quả nghiêm trọng như Vinashin, trách nhiệm thuộc về ai. Những người làm sai nên có lời xin lỗi với nhân dân và nên có văn hóa từ chức.
11 lần thanh tra, không phát hiện Vinashin sai phạm?
Buổi chiều 1-11, Tổng thanh tra Chính phủ Trần Văn Truyền trình bày về việc tại sao qua 11 lần thanh tra nhưng không phát hiện sai phạm cho đến khi Ủy ban kiểm tra của Quốc hội vào cuộc. Theo ông Truyền, 11 lần thanh tra là số lượng các lần thanh tra giám sát của nhiều cơ quan khác nhau từ năm 2006 đến 2010. Tuy nhiên, pháp luật hiện chưa quy định cơ quan nào chịu trách nhiệm thanh tra toàn diện. Đó là một phần do lỗi cơ chế.
"Chúng ta chưa phân định trách nhiệm rõ ràng. Các Bộ Kế hoạch - Đầu tư, Bộ tài chính, Bộ xây dựng... cùng có chức năng thanh tra từng khâu ở Vinashin, khó có cơ quan nào tiến hành thanh tra ngay từ đầu... Về vấn đề Vinashin, Thủ tướng Chính phủ đã xem xét chỉ đạo nhiều lần về mua sắm nhưng lãnh đạo Vinashin không khắc phục và chưa có cơ chế chế tài", ông Truyền nói.
Từ giữa năm 2008, Thanh tra Chính phủ đã có đề xuất thanh tra nhưng cùng lúc đó có 2 cuộc thanh tra của Bộ Tài chính tại đơn vị này nên Thanh tra Chính phủ hoãn lại. Năm 2009, Thanh tra Chính phủ đã được phê duyệt để thanh tra toàn bộ Vinashin và các tập đoàn kinh tế nhà nước nhưng khủng hoảng xảy ra, Thanh tra Chính phủ tiếp tục hoãn lại. Năm 2010, Thanh tra Chính phủ có kế hoạch thanh tra lần 3, nhưng vào tháng 1-2010 Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã vào cuộc kiểm tra và phát hiện dấu hiệu sai phạm ở tập đoàn này.
Như vậy, Thanh tra Chính phủ đã có kế hoạch 3 lần nhưng chưa có cuộc thanh tra toàn diện, kịp thời. Điều này, một phần là do cơ chế chồng lấn nhau, chờ đợi nhau và trong công tác điều hành còn nhiều khiếm khuyết.
Nói về vấn đề trên, Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Hồ Nghĩa Dũng, cho rằng Hội đồng quản trị là cơ quan đại diện chủ sở hữu của nhà nước tại tập đoàn, trong đó Bộ Giao thông Vận tải cho rằng về mặt quản lý ngành thì Vinashin thực hiện tương đối rõ ràng về lĩnh vực hàng hải biển, đã đúng pháp luật, phù hợp với quốc tế. Tuy nhiên, đối với chức năng đại diện phần vốn nhà nước được phân công thì đã có những khó khăn lúng túng.
Theo cơ chế, Bộ phải báo cáo với Chính phủ khi tập đoàn trình Chính phủ những nội dung liên quan đến các vấn đề như: mục tiêu, điều lệ, cơ cấu, nhân sự của tập đoàn Vinashin...  Do đó, với những nội dung liên quan nêu trên, Bộ không có quyền quyết định, mà quyết định chính thuộc về Chính phủ. Bộ chỉ quản lý ngành đối với tập đoàn chứ không có nhiệm vụ như Bộ một chủ quản.
Bên cạnh đó, Bộ Giao thông vận tải đã cùng các Bộ khác giám sát đầu tư tập đoàn. Theo Bộ trưởng Hồ Nghĩa Dũng, Bộ đã làm rất rõ nội dung thứ nhất khi tập đoàn trình Chính phủ. Còn nội dung giám sát đầu tư, Bộ hoàn toàn không phát hiện được những thất thoát. "Chúng tôi thấy nhiều lúng túng trong thực hiện chức năng giám sát ở Vinashin", Bộ trưởng Hồ nghĩa Dũng kết luận. 
Thiếu điện liên tục, ai chịu trách nhiệm?
Phát biểu về vấn đề đồng bộ trong quy hoạch, xây dựng, quy hoạch cầu và đường, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải Hồ Nghĩa Dũng nói: Chúng ta đồng bộ trong quy hoạch nhưng trong trong thực tiễn, do có nhiều nguồn vốn từ ngân sách, trái phiếu chính phủ..., chúng ta sử dụng những dự án từ các nhà tài trợ, có những nguồn tài trợ cho cầu chứ không tài trợ cho đường, nên phải chờ nguồn vốn khác. Ví dụ cầu Nhật Tân và đường Nhật Tân, cầu Nhật Tân đã xây xong nhưng đường chưa triển khai được vì vướng mắc giải phóng mặt bằng.
Tại buổi thảo luận sáng 1-11, đại biểu Lê Như Tiến (Quảng Trị) kiến nghị việc thiếu quy hoạch các dự án ximăng - thép để các dự án ra đời ồ ạt dẫn đến cung vượt cầu. Cần công khai minh bạch các quy hoạch để địa phương và nhân dân giám sát. Đề nghị Chính phủ tăng cường thanh tra, giám sát các "quy hoạch thiểu năng"
Cùng vấn đề trên, đại biểu Lê Văn Cuông gay gắt hơn: Việc để thiếu điện nhiều năm liên tục, ai là người chịu trách nhiệm?
Trao đổi tại hội trường, Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng cho rằng để khắc phục tình trạng thiếu điện, giải pháp quyết liệt nhất là đẩy mạnh xây dựng nhà máy điện theo Tổng sơ đồ VI được xây dựng cho giai đoạn 2006 - 2015 có xét triển vọng đến 2025. Thời gian qua đã đưa một số nhà máy nhiệt điện chạy than vào hoạt động. Đầu năm 2011 sẽ đưa vào hoạt động ổn định. Bên cạnh đó, Bộ sẽ trình Chính phủ xem xét đề án tái cơ cấu ngành điện vào cuối 2010.
Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng nhấn mạnh: đến năm 2011-2012 phải đảm bảo đủ điện thiết yếu cho nông dân. Bên cạnh đó, Bộ tiếp tục xây dựng đề án điều chỉnh giá điện thị trường đảm bảo nguyên tắc hộ nghèo sẽ được hỗ trợ thông qua hình thức trực tiếp và gián tiếp của nhà nước. Bên cạnh đó là việc vận động người dân tiết kiệm điện.
Về vấn đề quy hoạch ngành thép hiện nay, Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng thừa nhận đúng là có tình trạng một số dự án thép nằm ngoài quy hoạch. Quy hoạch thép phải là quy hoạch cứng. Vì thế, các dự án nằm trong quy hoạch mới được thông qua. Các dự án lạc hậu phải kiên quyết chấm dứt hoạt động.
Tăng cường kiểm tra, giám sát ở các địa phương. Hạn chế các dự án thép sản phẩm mà cần tập trung dự án sản xuất phôi thép, chẳng hạn như các dự án thép Vũng Áng, Thái Nguyên, Lào Cai. Quy hoạch ngành thép phải tập trung vào thép chế tạo và hạn chế dự án thép xây dựng.
Về nhập siêu, theo Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng, dự báo năm 2010 kim ngạch nhập siêu đạt 13,5 tỷ USD theo theo số liệu thống kê của Hải quan cho thấy tình hình nhập siêu trong 10 tháng qua giảm lại và có thể cuối năm chỉ đạt con số 12 tỷ USD.
Những năm tới thừa khoảng 2 triệu tấn ximăng/năm
Liên quan đến việc quy hoạch ngành xi măng hiện nay, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Hồng Quân cho biết theo dự báo mỗi năm nước ta tăng thêm 4,5 đến 5 triệu tấn ximăng. Trong năm 2010 cả nước tiêu thụ khoảng 51 triệu tấn, dự báo đến cuối năm nay đạt 56 triệu tấn. Do vậy, việc điều chỉnh quy hoạch ngành ximăng theo hướng bình ổn thị trường.
Theo đó, Bộ Xây dựng sẽ đẩy mạnh tăng cung nhưng hạn chế nhập khẩu clinker. Tăng cường kiểm soát gắn kinh tế xã hội từng vùng để đảm bảo sản xuất ximăng có hiệu quả, điều tiết giữa vùng nguyên liệu và vùng sản xuất để cung phù hợp với cầu.
Theo Bộ trưởng Nguyễn Hồng Quân, trong những năm tới, nước ta thừa khoảng 2 triệu tấn/năm. Do đó, Bộ cũng đã tính đến việc xây dựng các nhà máy sản xuất gạch không nung thay thế cho các nhà máy gạch, ngói đất sét nung để giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
THÙY MAI - HỒNG NHỰT

Không có khuất tuất thì cứ báo cáo chi tiết ra

Chi tiêu cho Đại lễ ngàn năm không biết hết bao nhiêu, dân tình trong ngoài nước đồn đoán là xài hết 4-5 tỷ đô la Mỹ, có mấy bác quan to hùng hổ là làm gì có chuyện xài hết mấy ngàn tỷ đồng, trả lời Quốc hội thì quan thượng thư cũng bảo không có khuất tất. Vấn đề là tiền này là tiền của dân, vì vậy dân mới hỏi (phải hỏi, có quyền hỏi), mà chi hết bao nhiêu thì các bác cứ huỵch toẹt ra đi, cứ gởi cho các đại biểu Quốc hội mỗi người một xấp mà xem, cái nào là chi cho đại lễ, cái nào là chi cho công trình quốc kế dân sinh chào mừng đại lễ,... a, b, c,.. nó ra làm sao, nôm na là bảng quyết toán ý mà, mọi chuyện nó minh bạch rõ ràng rồi thì đố có ai dám đồn thổi nữa.

Bài này copy từ Vnexpress:

Không có khuất tất trong chi tiêu cho đại lễ'

"Chúng tôi đã kiến nghị cắt 10 hoạt động, tiết kiệm hơn 100 tỷ đồng. Đâu đó nói rằng tốn 4.000-5.000 nghìn tỷ đồng cho đại lễ 1000 năm là không phải", Bộ trưởng Văn hóa Thể thao Du lịch Hoàng Tuấn Anh khẳng định chiều 1/11.

Dù chỉ nhận được hai ý kiến liên quan đến lĩnh vực mình quản lý, tuy nhiên Bộ trưởng Hoàng Tuấn Anh vẫn được mời trả lời trước Quốc hội trong buổi thảo luận kinh tế - xã hội.
Bộ trưởng khẳng định 3 năm lại đây, các hoạt động văn hóa thể thao du lịch có nhiều chuyển biến tích cực. Riêng kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, cả đất nước trong không khí tưng bừng, có những hoạt động rất thiết thực, nhất là sự kiện Hoàng thành Thăng Long, công trình thứ mười của Việt Nam, được nhận bằng di sản văn hóa thế giới.
"Chúng tôi coi việc tổ chức cho đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội là một sự đóng góp ý nghĩa. Đâu đó nói rằng tốn 4-5 nghìn tỷ đồng cho đại lễ là không phải. Tôi xin cam đoan không có chuyện thu lợi nhuận gì trong sự kiện này", ông Tuấn Anh khẳng định.
Bộ trưởng cho biết năm nay Bộ được giao tổ chức một số hoạt động kỷ niệm sau, 80 năm thành lập Đảng, 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, 35 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, 65 cách mạng tháng Tám, Quốc khánh 2/9, đại lễ 1000 năm Thăng Long. "Bộ đã rất tiết kiệm, từ đầu năm đến giờ số chi so với dự toán mới đạt 57,5%, số thực chi mới 88 tỷ đồng", ông Tuấn Anh nói.
Để tăng tính thuyết phục, Bộ trưởng Tuấn Anh dẫn chứng để chuẩn bị cho lễ diễu binh diễu hành sáng 1/10 tại Ba Đình, các lực lượng đã luyện tập 2-3 tháng trời, bất kể mưa gió, nắng gắt. Trong khi Bộ Tài chính quy định kinh phí cho mỗi buổi luyện tập của mỗi người chỉ 25.000 đồng, hôm diễu hành tăng lên thành 35.000 đồng, không đủ tiền đi lại.
"Các hoạt động kỷ niệm, đặc biệt đại lễ nghìn năm xin khẳng định không có gì khuất tất. Chúng tôi hết sức tiết kiệm, đã kiến nghị cắt 10 hoạt động, tiết kiệm hơn 100 tỷ đồng. Bộ sẵn sàng cung cấp chi tiết những khoản đã chi, còn chi tiêu của những cơ quan khác đã có Bộ Tài chính quy định", Bộ trưởng Văn hóa nhấn mạnh.
Ong Tuan Anh
Bộ trưởng Văn hóa Thể thao và Du lịch khẳng định: "Đâu đó nói rằng tốn 4-5 nghìn tỷ đồng cho đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội là không phải". Ảnh: Hoàng Hà.
Về phía các địa phương, người đứng đầu ngành văn hóa du lịch cho biết đã chỉ đạo phải lấy kinh phí địa phương và huy động xã hội hóa. Có một số địa phương, ngành tổ chức lễ kỷ niệm quy mô tốn kém đã bị nhắc nhở. Nhưng gần đây, từ khi có nghị quyết 45 của Bộ Chính trị về việc tiết kiệm trong các hoạt động lễ lạt, việc tổ chức đã tốt hơn.
"Sau này lễ hội sẽ tổ chức quy mô vừa phải, nhưng không thể không tổ chức. Vì thông qua các hoạt động tuyên truyền quảng bá, hình ảnh Việt Nam được thế giới chú ý hơn", ông Tuấn Anh nói. Ông cũng cảm ơn Hà Nội, nhờ đại lễ mà có thêm công viên Hòa Bình, bảo tàng, thư viện Hà Nội. Những công trình này đã góp phần giúp người nước ngoài hiểu thêm về Việt Nam.
Phần trả lời kéo dài 7 phút của Bộ trưởng Tuấn Anh được Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Kiên đánh giá là chưa trúng và đề nghị: "Bộ trưởng cần nói rõ việc tổ chức có lãng phí không?". Tuy nhiên, phần trả lời sau đó của Bộ trưởng không có nhiều thông tin.
Trước đó vào buổi sáng, thảo luận về tình hình kinh tế xã hội, đại biểu Võ Minh Phương nêu vấn đề năm nay đất nước tổ chức nhiều ngày lễ lớn, nhiều sự kiện chào mừng và tiến tới đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội. "Tình hình lãng phí trong tổ chức lễ hội được Quốc hội nêu ra từ kỳ họp trước nhưng chưa khắc phục được nhiều. Nhiều nội dung chưa được cân nhắc, chọn lựa kỹ, trong đó đáng chú ý là chất lượng một số công trình chào mừng chưa bảo đảm, không ít sản phẩm ăn theo mang tính hình thức không cần thiết, gây tốn kém tiền của công sức của xã hội", ông nói.
Đại biểu Phương đề nghị Chính phủ cần chỉ đạo, tổng kết các lễ hội trong năm 2010, nhất là đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội để công bố cho nhân dân biết tổng chi phí từ ngân sách nhà nước phục vụ cho lễ hội, qua đó rút kinh nghiệm để tiết kiệm tốt hơn.
Hồng Khánh

VÀI Ý NGHĨ NHÂN HỘI THẢO VỀ TỐ HỮU

Lại Nguyên Ân



1/ Kỷ niệm Tố Hữu (TH) năm nay, nhân 90 năm sinh, được tổ chức khá rùm beng: đã một buổi trình diễn thơ-nhạc tại Nhà hát Lớn hôm chủ nhật 2/10, lại buổi hội thảo tại ban Tuyên huấn TƯ hôm nay, 4/10. Làm lớn  nhân năm chẵn, lại nhân lễ ngàn năm Thăng Long, rõ rồi; nhưng liệu có phải vì cái uy của thơ TH đang suy trong công chúng? Nghe đôi nhà giáo đại học cho biết, sinh viên ngữ văn không thích làm luận văn, luận án về thơ TH. Không tin thì ban Tuyên huấn cho cán bộ nhân viên làm điều tra xem?
2/ Đọc lại tài liệu giới phê bình nghiên cứu VN viết về TH, nhất là những gì viết từ 1955 đến 2000, bạn phải lưu ý… “trừ bì”, tức là phải lượng định mức độ phóng đại của những lời khen. Một đôi người chỉ khen cho phải phép trước kẻ đắc thời đắc thế, nhưng nhiều người thì khen thơ TH là khen cấp trên, đề lên tận lưng trời, là để kiếm lợi riêng, như cái tay phụ trách tạp chí của Viện nọ dám viết rằng TH làm chức càng cao thì thơ càng hay! (trong khi Xuân Sách nhận xét đúng hơn: nhà càng lộng gió thơ càng nhạt!). Thơ TH đã từng đem lại tiền bạc, học hàm học vị cho không ít nhà giáo, nhà nghiên cứu, – điều này có thật, nhưng “chất lượng khoa học” của sự phê bình nghiên cứu trước đây về thơ TH thì nay cần phải trở thành một đối tượng nghiên cứu khảo sát, đừng có mặc nhiên trích dẫn vô tư.


3/ Giá trị thực sự của thơ TH ra sao? Có sống sót được với thời gian không? – là những điều người ta nên nghĩ tiếp.
Tôi cho rằng thơ TH có thể có tình giai cấp, tình dân tộc, nhưng không có tình nhân loại.
Không có tình nhân loại là ý thức, là chủ ý của nhà thơ TH, người đã ra lệnh cho toàn giới lý luận và sáng tác văn nghệ ở miền Bắc phải loại bỏ tình nhân loại, bác bỏ chủ nghiã nhân đạo (humanisme) cả về lý luận lẫn thực tiễn, bảo nó là “nhân loại chung chung, nhân tính trừu tượng”, mang tính tư sản, cấm không ai được rơi vào quan niệm đó, nếu không muốn bị trừng phạt! Tự ông nói thơ ông là “đồng ý, đồng tình, đồng chí”, nghĩa là những ai không là “đồng chí” với ông thì không thể được ông thích, những ai không “đồng tình, đồng ý” với ông thì đều bị loại ra khỏi thế giới thơ ông. Bị nhà thơ thường dân ghét thì cũng chẳng sao, nhưng bị nhà thơ quyền uy đầy mình như TH ghét thì kẻ bị ghét sẽ khốn nạn từ thân xác đến tận tâm thần, như những cựu “đồng chí” Nhân văn-Giai phẩm đó!
Những nhận định cũ về tình giai cấp, tình dân tộc ở thơ TH cần được minh định lại. Tình dân tộc ở thơ ông chỉ có trong sự phụ thuộc tình giai cấp; ông thạo các điệu thơ Việt cũ, như câu lục bát, câu song thất, lời diễn ca; nhưng ông lại bắt những gì dân tộc tính phải mang màu thời đại, lại là cái màu như ý ông, tức là phải gần gụi công nông binh, – ông chỉ thừa nhận là có tính dân tộc những gì gần gũi với các tầng lớp bình dân hoặc dưới đáy; ông là một học trò tiểu tư sản sinh ra ở đất “thần kinh” Huế nhưng lại ghét tất thảy những gì mang chất trí thức, bác học; ông là người hoạt động chính trị mạnh mẽ, nhiều đam mê và cơ mưu, nhưng thơ ông lại cổ vũ một thứ chủ nghĩa cấm dục hà khắc, may lắm cũng chỉ có một chút xíu tình yêu platonic, “trái tim chia ba phần…, dành cho Đảng phần nhiều”... Tình giai cấp ở thơ ông tựu trung là tìm sự cảm thông trong những tầng lớp dưới, bị thống trị, kêu gọi họ hợp sức lật đổ giai cấp giàu có đang thống trị và giao cái quyền lực vừa giành được ấy cho ông và các đồng chí của ông, rồi từ đấy hãy cúc cung lao động chiến đấu dưới sự dẫn dắt không thể lầm lẫn của bọn ông! Thế thôi. Tức là nó mang đầy sự thực dụng, sự tuyên truyền. TH hiển nhiên là nhà thơ của Đảng mình, nhưng vị tất đã là nhà thơ của dân tộc mình.
Ảnh hưởng thơ TH ở VN (nói chính xác là ở vùng thuộc VNDCCH và CHXHCNVN) là lớn, nhờ việc bộ máy tuyên truyền do ông đứng đầu, đưa thơ ấy tràn ngập các kênh chủ yếu: sách giáo khoa, sách báo phổ thông, đài phát thanh… Nói cho đúng, công chúng sống trên đất VNDCCH và CHXHCNVN biết và thuộc thơ TH là vì không thể tránh thoát thơ ấy, là vì không có chỗ trốn khỏi thơ ấy. Tất nhiên thơ ấy chiếm lĩnh tâm hồn rất nhiều lớp người, và chính vì thế mà họ đã làm những gì thơ ấy kêu gọi, nhất là… ra trận!
Thơ TH có những vết nhơ không thể tẩy xóa, như đoạn thơ “Yêu biết mấy nghe con tập nói / Tiếng đầu lòng con gọi “Sta-lin” ! Ý thơ ấy, ngay tầm gần, đã trái hẳn lẽ thường nhân loại: trẻ con tập nói thì gọi “mẹ” chứ đâu đã biết ai xa lạ? trẻ Việt làm sao tập nói được cái từ đa tiết xịt xoạt như thế kia? (Bài đăng tạp chí Văn nghệ 1953 là Tiếng đầu lòng nó gọi ‘Ông Lin’ , bản in vào sách Việt Bắc  1955 sửa thành Tiếng đầu lòng con gọi ‘Stalin’). Lại nữa, người đàn bà Việt dân quê làm sao có thể “Thương cha thương mẹ thương chồng / Thương mình thương một, thương Ông (Stalin) thương mười”  (!?!). Đây quả là một quái tượng trong thơ ca tiếng Việt và thơ ca thế giới, khi nhà thơ (thường được xem là kẻ chỉ biểu dương những gì nhân ái, lương thiện) lại ngợi ca “công đức” một Bạo chúa, một Hung thần, một Độc tài khét tiếng, một Đao phủ thủ vĩ đại, và để làm cái việc ngợi ca trái lẽ ấy, người làm thơ đã hoàn toàn xé bỏ những giới hạn thông thường của tình cảm nhân loại.
Trên mạng internet bây giờ đôi khi còn thấy người ta cho rằng TH là tác giả đoạn thơ khủng khiếp này: 
 
Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ,
Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong,
Cho đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng,
Thờ Mao Chủ tịch, thờ Sít-ta-lin bất diệt.
Tôi thấy lạ với đoạn thơ này, vì dường như chưa từng gặp nó trong các tập thơ Tố Hữu đã đọc. Vậy nhân đây đề xuất với giới nghiên cứu, nhất là các giáo sư đã từng “ăn lộc” nhiều ở thơ TH (như Hà Minh Đức, Nguyễn Văn Hạnh, Trần Đình Sử…), hãy tìm ra ngọn nguồn đoạn thơ này và thông tin lại cho bạn đọc; nếu nó không phải là thuộc ngòi bút TH thì cũng là may cho ông, tuy vẫn thật buồn cho giới làm thơ của chúng ta. Lọt sàng xuống nia, nó vẫn là của một ngòi bút Việt Nam nào đó. Vượt ra ngoài chuyện xác định “tác quyền” cụ thể, đoạn thơ này thông báo rằng còn có cả một dòng thơ ca quần chúng sắt máu đầy hận thù giai cấp từng được Đảng khơi lên, từng được sáng tác ra và lưu truyền trong dân chúng, – đó là “văn thơ (có cả kịch, chèo) phát động quần chúng giảm tô và cải cách ruộng đất”, xuất hiện từ khoảng 1951 và tự tắt đi vào cuối 1956. Rất nhiều tên tuổi nhà thơ nhà văn quen thuộc có góp tác phẩm vào mảng văn thơ này, kể cả Nguyễn Tuân, kể cả Nguyễn Bính, kể cả Hữu Loan…, tất nhiên số đông hơn vẫn là những tác giả quần chúng ít tên tuổi. Cho đến nay, về cải cách ruộng đất thì ít nhiều đã có những công trình, luận  án sử học, nhưng mảng văn thơ cải cách ruộng đất thì vẫn chưa hề có một sưu tập, tuyển tập tác phẩm, cũng chưa có một công trình nghiên cứu, luận án hay luận văn nào đề cập tới. Cố tình hay vô ý của giới nghiên cứu văn học chính ngạch ta đây? Hãy chờ nghe trả lời từ những người đang phụ trách các cơ quan nghiên cứu khoa học xã hội của nhà nước. Nhưng dù sao thì cũng đừng nghĩ rằng hễ giới nghiên cứu làm bộ quên thì mảng văn thơ này sẽ dần dần biến mất; tốt hơn là nên tiếp cận bằng các sưu tập và công trình nghiên cứu, tức là nhắc lại nó như một kinh nghiệm đau xót của một nền văn học từng sa vào những giọng điệu và tinh thần phi nhân đáng hổ thẹn ấy.
4/ Tôi không biết viết truyện, nên rất muốn mách cho ai đó giỏi viết truyện, hãy viết một truyện “chưởng” có nhan đề “Ly Khách Thần Kinh và quần anh Bắc Hà”. Đây là một chuyện “quần hùng” của giới văn sĩ VNDCCH và CHXHCNVN những năm 1947-1990.
“Ly Khách Thần Kinh” là TH, một người Huế (= đất thần kinh), rời Huế ra Bắc hoạt động từ 1947 (hoặc sớm hơn) nên gọi là “ly khách” (dựa câu thơ Thâm Tâm “Ly khách! Ly khách! Con đường vắng ”); “quần anh Bắc Hà” dĩ nhiên là nói đám văn sĩ Việt trên đất Bắc, từ những người tham gia Văn hóa cứu quốc thời đầu đến những tài danh thuộc lớp kế tiếp.
Những văn sĩ tham gia hội Văn hóa cứu quốc (VHCQ) thời đầu (1943-45) hầu hết đều là những tài năng trẻ ở đất Bắc, hứa hẹn kế tiếp lớp tiền chiến đầy thành tựu. VHCQ là đoàn thể nằm trong Việt Minh rộng lớn, nhưng quan hệ trực tiếp với Hội này là các nhân sự đứng đầu xứ ủy Bắc Kỳ (của ĐCS Đông Dương). Ngay sau ngày cướp chính quyền (19/8/1945) VHCQ rất được tin dùng. Việc tổ chức lễ tuyên bố độc lập được giao phần chính cho VHCQ; đến số liệu người chết trong nạn đói 1945 nêu trong Tuyên ngôn độc lập cũng do VHCQ cung cấp…
Trong năm 1946 “Ly Khách Thần Kinh” có ra Hà Nội, có ghé thăm VHCQ trước lúc trở về Thanh, VHCQ in cho tập “Thơ”  (1959 in lại đổi là “Từ ấy”), thế thôi…
Vậy mà chỉ hơn một năm sau, lúc đã bước vào kháng chiến, tại Việt Bắc, giữa những văn sĩ đã rời Hà Nội đến “thủ đô gió ngàn” bỗng lại xuất hiện “Ly Khách Thần Kinh”, không phải như một văn sĩ như các văn sĩ khác, mà như một người của Đảng cử sang lãnh đạo cả giới này.
Thế tức là những văn sĩ theo VHCQ từ đầu, đã không có ai được đủ tin cậy để TƯ Đảng giao cho lãnh đạo giới mình. Những Ng. H. Tưởng, Ng. Đ. Thi hẳn là có hơi bị sốc?
Phía “Ly Khách Thần Kinh”, một tập “Thơ” (Từ ấy) chưa đủ để đám văn sĩ đi KC này phục tài. Làm sao chàng so đọ được tài văn với Ng. Tuân, tài thơ với X. Diệu, tài nhạc với V. Cao, …?
Cuộc “chinh phạt” của “Ly Khách Thần Kinh”  phải diễn ra với những mưu kế khác, tùy theo thời thế.
Năm 1949 thì chỉ bằng mấy nguyên tắc “dân tộc-khoa học-đại chúng” đã có thể dằn mặt Ng.Đ.Thi và những người trẻ đang hăm hở làm mới thơ Việt.
Sau 1950 (khai thông biên giới, tiếp nhận ảnh hưởng Trung Cộng), thì nhân danh chỉnh huấn, còn có thể buộc hầu hết “quần anh Bắc Hà”, kể cả những tài danh lớn như Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Thế Lữ, Nguyễn Công Hoan… viết kiểm điểm về lập trường giai cấp từng thể hiện trong sáng tác trước kia, tuyên bố từ bỏ thành quả văn nghệ tiền chiến của chính mình, cam kết từ đây chỉ viết trong vòng “yêu-căm-chiến-lạc” (= yêu nước, căm thù giặc, chiến đấu, lạc quan).
Tất nhiên đám “quần anh Bắc Hà” không chỉ có duy nhất một bọn, thế nên tốp này quy hàng lại có tốp khác khiêu chiến. Tranh luận tại Hà Thành hồi 1955 về tập thơ “Việt Bắc”  là điểm va chạm nảy lửa; một bọn văn sĩ (Hoàng Cầm, Lê Đạt, Nguyễn Bính…) ngạo nghễ xem thường lối thơ bình dân hóa, nhân danh công nông binh của “Ly Khách Thần Kinh”, trong khi đám đã quy hàng (X. Diệu, H.Thanh, Ng. Đ.Thi…) thì ra sức tâng bốc, hơn thế, còn dùng quyền lãnh đạo để buộc chấm dứt thảo luận khi những lời chê bai đậm dần lên…


 Nhưng sự tranh biện lại nảy ra ở quy mô rộng hơn, động đến những tai họa xã hội có thật, tại đất mình (cải cách ruộng đất, chỉnh đốn tổ chức) và tại “phe” mình (dân Hung, Ba Lan nổi lên chống ách XHCN Xô-viết…)… “Ly Khách Thần Kinh”, cùng với đàn anh trong chính giới, dùng sách “trăm hoa đua nở” của Mao, cho “mở rộng dân chủ”, “phê bình lãnh đạo” để xả van trí thức, nhân thể cho lộ diện những gương mặt bướng bỉnh đáng ghét. Thế là có mùa vụ ngắn (từ tháng 9 đến 12/1956) của những Giai Phẩm, Nhân Văn, Đất Mới, Sáng Tạo, Trăm Hoa… Rồi thoắt cái, van phê bình khóa lại, màn đua nở hạ xuống, tất cả mọi ý kiến bất đồng đã phát biểu trở thành chứng tích để kết tội “chống chế độ”, một loạt “đồng chí” trí thức, văn nghệ sĩ được biến thành kẻ thù của tổ quốc, của chế độ… Một không khí sợ hãi đã hình thành trong giới văn nghệ, trong toàn xã hội, – mục tiêu thiết lập chuyên chế tinh thần đã thành đạt.
“Ly Khách Thần Kinh” đắc thắng, bước thăng tiến ngày một cao. Đám “quần anh” kế sau tại Hà Thành có lúc toan thở phào, tưởng chừng khi anh Lớn bước vào nội các làm tả tướng quốc chuyên lo việc canh nông, thì thôi, để miền văn nghệ cho quan lớn… nhỏ hơn. Họ đã lầm, “Ly Khách Thần Kinh” vẫn canh chừng đất văn nghệ vốn là “đất phát tích” của mình, và vẫn thừa uy lực ngoái sang giáng một chưởng quyết định vào vài kẻ dám “đề dẫn” (1979) cho một tinh thần văn chương có mùi khác khác. Cú choảng này nhất cử lưỡng tiện: vừa cản đường và vô hiệu hóa một tay bút từ chiến trường bước ra với tương lai chính trị có vẻ tràn trề, vừa làm phúc cứu thua cho Ng.Đ.Thi đang đứng trước nguy cơ bị thải loại quá sớm. Ng. Đ.Thi được cứu, lại đứng ra chủ trì ĐH nhà văn thứ 3 (1983) và tái đắc cử tổng thư ký, trong hân hoan chót nói… thật những lời có cánh đầy tai tiếng, tự xem giới nhà văn của mình là những “hạt bụi” lấp lánh dưới ánh sáng đảng! 
Nhưng đường thăng tiến của “Ly Khách Thần Kinh” không phải cứ lên cao … cao mãi, tuy rằng, đã có lúc khắp tam kỳ tứ trấn ngập tràn lời đồn đại Ngài sẽ được truyền ngôi tổng Bí. Sau vụ đổi tiền 1985, lạm phát sốt lên theo nhịp thơ leo thang, lên tới vài chục ngàn lần, đất nước rúng động, lãnh đạo giật mình; tài kinh tế của “Ly Khách Thần Kinh” đã bộc lộ trọn vẹn, Ngài bèn bị phạt thẻ đỏ, mất chức, rời nội các. Cuộc “đổi mới” diễn ra, nghe nói Ngài hậm hực không tán thành. Rồi thì Ngài chìm vào tâm trạng “riêng một ngọn đèn” ở bên lề giới chính khách mới…
Ngài quay lại chơi với giới văn sĩ. Thường là dễ chơi với đám trẻ con khi xưa mà nay đã thành những nhà văn nhà thơ người lớn. Còn với những “cố nhân” nặng nợ một thời thì không dễ chút nào, khi những ân oán giang hồ cũ không thể nào vơi đi được. Một mặc cảm tội lỗi nào đó vẫn đeo đuổi Ngài chăng, khi Ngài tận dụng những phỏng vấn dài dài để gài vào tương lai một nghi án rằng Ngài từng rất mực nể trọng những thi nhân học giả lỗi lạc này kia, lẽ nào chính Ngài đàn áp họ!? Lúc khác, cầm bút viết hồi ký, Ngài sống lại tư thế cầm quyền khi trước, tiếp tục gọi tất cả đám học giả thi nhân ấy là “bọn phản động”! Quả thật, cho tới khi đậy nắp quan tài, Ngài vẫn chưa thể “nói chuyện” lại được với những nạn nhân của mình trong giới cầm bút. Phía những nạn nhân cũ ấy cũng vậy: từ lúc được khôi phục, họ lên tiếng về mình ở nhiều chỗ khác nhau, trước những công chúng và đồng nghiệp khác nhau, trừ những công chúng và đồng nghiệp đã từng la ó và cùm kẹp họ. Ấy vẫn là một bất cập lịch sử của cả hai phía. Đám “quần anh Bắc Hà” xưa bị Ngài dìm xuống bùn, phải từ bùn gượng dậy, bằng sáng tạo mà trụ lại với đời, – đám người ấy nay còn hận Ngài chăng? Khó biết hết. Như bài Hoàng Cầm tiễn đưa Ngài đó! Chỉ phô cái tử tế ra mà thôi! Mà tử tế chưa phải là tất cả tâm địa người đời.
Cây bút nào sẽ viết truyện “chưởng” này nhỉ?
        

( Nguồn: Trannhuong.com )